Số phận tượng thần tự do Hà nội

Bức ảnh ở entry trước chụp bản tin trên báo Đông Pháp ngày 2/8/1945 cho biết, pho tượng “Bà đầm xoè” bị giật đổ 9 giờ 45 phút ngày 1/8/1945. Đoạn cuối có ghi: “Lúc tượng ngã xuống thì đã có đống cát đỡ ở dưới để từ từ hạ xuống xe ô tô chở hàng. Hai pho tượng ở Cửa Nam và Trường Thi được đưa về…”, những dòng kết không có trong bức ảnh làm ta tò mò muốn biết: Cuối cùng số phận của Tượng thần Tự do ở Hà nội ra sao?

Câu chuyện nói nghe như đùa, nhưng có thực – thực 100% với nhiều tư liệu cụ thể!

Nhân ngày Quốc khánh Mỹ, tôi xin kể lại như là một món quà đặc biệt.

Trước đến nay, ai cũng cho rằng chỉ có duy nhất một tượng Nữ Thần Tự Do ở Mỹ. Kỳ thực có đến 3 cái. Tuy nhiên, trên thế giới, hiện nay trong thực tế chỉ còn lại hai tượng Nữ Thần Tự Do mà thôi:

Một là pho tượng khổng lồ đứng sừng sững như là một kỳ quan của nhân loại trên cù lao “Liberty Island” ngoài cảng khẩu của đô thị New York (USA). Hình ảnh của nó quá phổ thông nên ai cũng biết

Tượng Thần Tự Do ở New York

Hai là pho tượng phiên bản nhỏ hơn dựng tại trên bờ sông Seine nơi cầu Grenelle ở Paris (Pháp). Tượng này ít người biết nếu không có dịp du ngoạn trên sông Seine bằng thuyền máy (bateau mouche).

Tượng thần Tự Do ở Paris

Vậy đâu là pho tượng Nữ Thần Tự Do thứ ba?

Xin thưa rằng đó cũng chính là một phiên bản nhỏ khác của pho tượng New York. Nó chỉ cao 3 thước và đã được đem đến Hà nội chính xác vào ngày 15 tháng Ba năm 1887 nhân dịp Triển lãm của chính phủ Bảo hộ Pháp đầu tiên ở Việt Nam. Rồi sau đó, tượng được dựng tại trung tâm của Thành phố Hà Nội trong nhiều năm trước mắt của người dân ở đây. Nhưng tại sao rất ít người biết? Câu chuyện ly kỳ này khá bất ngờ và nhiêu khê, nên tôi xin hạ hồi phân giải.

Trước hết, nhân ngày Quốc Khánh Mỹ, chúng ta hãy ôn lại vài nét lịch sử của pho tượng khổng lồ tại New York như là một biểu tượng hào hùng không riêng gì của dân Hoa kỳ mà là của toàn nhân loại:

Tượng này là tặng phẩm đặc biệt mà nhân dân Pháp gửi tặng cho Hoa kỳ vào năm 1884 để kỷ niệm ngày lễ Bách Niên Độc lập của quốc gia trẻ trung này. Tượng do điêu khắc gia Pháp rất nổi tiếng vẽ kiểu là Fédéric August Bartholdi. Nó không phải đúc nguyên vẹn một khối mà lại được tạo ra bằng cách dát và chạm hàng trăm mảnh kim khí rời rạc để cuối cùng ráp lại ( theo phương pháp Repoussé). Những mãnh rời đựng trong 214 thùng gỗ để chở bằng tầu thủy từ Pháp qua Hoa kỳ. Sau khi được ráp lại thì pho tượng cao 151 feet 1 inch (46 thước 05) tính từ chân cho đến ngọn đuốc, nặng 204 tấn. Cái cốt sườn trong pho tượng bằng sắt được vẽ kiểu do kỹ sư trứ danh Pháp là Alexandre Gustave Eiffel, người về sau đã dựng nên cái tháp sắt Eiffel đứng trong lòng thành phố Paris.

Tượng Thần Tự Do được dựng trên một cái bệ khổng lồ cao 154 feet (47 thước) vẽ kiểu do kiến trúc sư Hoa kỳ Richard Morris Hunt. Trên một bảng đồng gắn vào bức tường phía sau bệ, có khắc bài thơ của nữ thi sĩ Emma Lazarus với nội dung là lời mời gọi thiết tha của Nữ Thần đối với những người bị áp bức ở thế gian đại khái như sau:

Đón lại cho ta bao người mệt lả
Kẻ khốn nghèo từng muốn hít Tự Do
Cùng người không nhà, cuồng phong tơi tả
Ta giơ đuốc này, cửa vàng rộng mở!

…Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breathe free,
The wretched refuse of your teeming shore.
Send these, the homeless, tempest-tost to me,
I lift my lamp beside the golden door!”

Tượng được thể hiện bằng hình một phụ nữ mặc áo choàng rộng, tay phải giơ cao một bó đuốc lửa đang cháy, trên đầu đội một cái mão có bảy tua dài và nhọn tượng trưng cho nguồn ánh sáng lan tỏa ra khắp bẩy đại dương và bẩy châu lục. Tay trái cầm tấm bảng ghi những chữ July 4th là ngày tuyên bố độc lâp của Hoa kỳ, chân của tượng mang mang sợi xích sắt bị chặt đứt, hàm ý cho tinh thần bất khuất chống sự nô lệ. Do đó, tên khai sinh chính thức của pho tượng là “Liberty enlightening the world” (Tự Do soi sáng thế giới).

Vậy cơ duyên nào đã khiến m
ột phiên bản của tượng Tự Do này được chở qua Hà nội rất sớm? Nói thật chính xác, nó đã đến Hà Nội vào ngày 15 tháng Ba năm 1887 – nghĩa là chỉ 5 tháng sau khi pho tượng khổng lồ chính thức được khánh thành tại New York như là một tặng phẩm của nhân dân Pháp để kỷ niệm lễ Bách chu niên nền Độc lập Hoa kỳ.

Nguyên do là người Pháp thực dân mới đặt ách thống trị trên nước Việt Nam theo Hòa Ước Bảo hộ Patenôtre năm Giáp Thân (1884) đã mở ra một Hội chợ triễn lãm nhiều sản phẩm đặc biệt của Pháp như xe đạp, tầu hỏa v.v… Người Pháp đã nhắm nhiều ý đồ: trước hết là muốn phô trương thanh thế của người thắng trận và sự ưu tú kỹ thuật của mình trong mắt người dân bị trị, sau là muốn tự gán cho mình vai trò “khai hóa” có nhiệm vụ đem ánh sáng văn minh và tự do lại cho người dân thuộc địa. Bởi thế, chính quyền Bảo Hộ Pháp không thấy gì mâu thuẫn khi đem trưng bày pho tượng Tự Do ở Hà Nội cả.

Đương nhiên nhân dân Việt Nam thuở đó khó mà chấp nhận điều này và còn coi là ô nhục vì cả nước Việt Nam vẫn còn sôi sục phong trào Cần vương, Văn thân chống đối với người Pháp và nói rõ thêm là ảnh hưởng ngàn năm của văn hóa văn minh Trung Hoa còn sâu đậm trong tâm trí Việt Nam nên vẫn hững hờ và có vẻ không ưa chuộng những sản phẩm từ Âu Mỹ lại.

Theo Nguyễn Phúc Bừu Diên và Phạm thị Hoàng Oanh trong Quê Hương Hoài Niệm, chính hội “Huynh Đệ Bắc Kỳ” đã đặt mua tượng Thần Tự Do cho cuộc Hội Chợ rồi sau đó hiến tặng cho thành phố Hà Nôi. Tượng cao 3 thước, bằng 1/16 pho tượng khổng lồ ở New York được khánh thành trọng thể tại một công viên sau này là Vườn hoa Chí Linh ở trung tâm thành phố Hà Nội.

Nhưng người dân Hà Nội đã hoàn toàn mù tịt về ý nghĩa “Tự Do soi sáng Thế giới” nguyên thủy của pho tượng. Mà ví dụ có ai hiểu chăng thì lại càng thấy đây là một sự khôi hài chua chát vì rõ ràng người Pháp thực dân là những kẻ cướp Tự Do đã hoàn toàn đi ngược lại với lý tưởng của Cách Mạng Pháp là “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” (Liberté, Égalité, Fraternité).

Dân Hà Nội bèn gọi tượng Tự Do bằng một xước danh là tượng “ Đầm Xòe”, vì trong mắt họ, đây là một mụ đàn bà Pháp ăn mặc lạ mắt lòe xòe. Chữ “xòe” cũng có thể do nhìn cái mão đội đầu của bức tượng với 7 tua xòe ra.

Trong con mắt của người dân, họ đã lẫn lộn tượng Nữ Thần Tự do Hoa kỳ với Đầm xòe Pháp tức là hình ảnh bà Marianne, biểu tượng của Pháp quốc thường in trên những tờ giấy bạc Đông Dương. Bà Marianne này khi thì đội nón da La Mã, khi thì đội vòng nguyệt quế, khi thì đội mão có tua xòe. Nói chung thì mọi phụ nữ Tây phương mặc áo quần lòe xòe đều được dân ta gọi là “đầm xòe” tuốt. Dân ta thời Pháp thuộc càng cảm thấy nhục nhã bực bội khi thấy trên những tờ bạc thấy những bà đầm vịn vai một ông quan Nam triều mặc áo gấm mang thẻ bài hay ngồi trên bục cao xoa đầu một phụ nữ VN ! Do đó, dân Hà Nội cũng xếp Nữ Thần Tự do Hoa kỳ là cá mè một lứa.

click to comment

click to comment


click to comment

Đầm xòe Tự Do Hoa kỳ đứng ở vị trí đắc địa là vườn hoa Chí Linh nhìn ra hồ Hoàn kiếm chưa nóng chỗ, thì vào 4 năm sau, vào ngày Quốc khánh Pháp Cát-to duy-ét (14, Juillet) năm 1890, nó bị người Pháp thay thế bằng tượng của ông Paul Bert, nguyên là tổng trú sứ Pháp đầu tiên ở Bắc kỳ. Ông này vừa là khoa học gia vừa là chính trị gia có đường lối cai trị mềm mỏng khôn khéo, bị bịnh chết năm 1886 ở Hà Nội sau bẩy tháng nhậm chức. Chính quyền Bảo hộ Pháp muốn dựng tượng Paul Bert vì muốn dân Việt Nam vinh danh ông là “ đại ân nhân “ của mình cũng như đã nhồi sọ trẻ con Việt Nam với một bài tập đọc đề cao công ơn ông trong cuốn Quốc văn Giáo khoa thư lớp Dự bị !

click to comment

Ca ngợi Paul Bert

Một chuyện khôi hài là người Pháp vội vã kéo “Bà đầm xòe Mỹ” xuống đồng thời chở tượng Paul Bert Pháp tới, nên hai tượng nằm lăn lóc cạnh nhau trên cỏ trong lúc chờ đợi lấy đá từ núi Vosges bên Pháp là quê hương của Paul Bert chở sang VN để làm bệ tượng cho ông. Do đó tạo ra dịp để trẻ con Hà Nội bày ra câu hát nhảm sau:

Ông Bôn-be lấy Bà Đầm
Trước nhà kèn ò e ý e

Paul Bert

Tượng Paul Bert ở hoa hoa Chí Linh, trước nhà kèn

Vườn hoa Chí Linh sau đó được gọi tên mới là Công trường Paul Bert, còn Bà Đầm xòe được dời lên đỉnh Tháp Bá Kim (quen gọi là Tháp Rùa) xoay mặt về Ngân Hàng Đông Dương, nhưng bị dư luận phản đối dữ dội: đứng ở vườn hoa chưa đủ cao sao mà còn đòi lên đỉnh tháp Rùa!

Tượng Th
n Tự Do (bà đầm xoè) ở vườn hoa Cửa nam

Cuối cùng Bà Đầm xòe được chuyển đến vườn hoa Neyret phía tây hồ Hoàn Kiếm – tức là Vườn hoa Cửa Nam gần Thư viện Quốc gia để đứng đó trong nhiều năm trong sự thờ ơ của dân chúng, để đêm đêm chứng kiến những cặp tình nhân tình tự bên dưới. Rồi đến năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, thị trưởng Thành Phố Hà Nội là bác sĩ Trần văn Lai muốn xóa bỏ tàn tích xâm lược nên ông quyết định sửa đổi tên đường và giật đổ tất cả những tượng mà Pháp dựng lên ở Hà Nội như Thống chế Foch, tên buôn súng Jean Dupuis và đương nhiên Bà Đầm xòe không thoát khỏi số phận hẩm hiu. Trong cao trào yêu nước này, dân Hà Nội lại có dịp hát châm biếm rằng:

Bôn-be với mụ Đầm Xòe
Ta kéo chúng xuống, ta đè chúng lên !

Tất cả tượng đồng trên của Pháp ở Hà Nội được chứa trong kho phế vật của sở Lục Lộ Thành Phố. Những tưởng chúng nằm đó yên thân vĩnh viễn. Ai ngờ đến năm 1949, chùa Thần Quang thuộc làng Ngũ Xã khởi công đúc pho tượng Phật A di đà. Pho tượng này dự tính là pho tượng Phật lớn nhất ờ VN: thân tượng cao 3.95 thước, tai Phật dài 70 cm, chu vi tượng 11.6 thước, nặng 11 tấn, tòa sen gồm 96 cánh nặng 1.6 tấn. Trong 3 năm chuẩn bị, mặc dù nhà chùa kêu gọi khách thập phương quyên góp rất nhiều đồ dùng bằng đồng, nhưng vẫn không đủ đồng để đúc Phật, nên vào năm 1952, thị trưởng Hà Nội đã tặng nhà chùa tất cả các pho tượng chứa trong kho Lục Lộ, trong đó có tượng Bà Đầm xòe…

Tượng Phật A di đà tại chùa Thần Quang – Làng Ngũ Xã – Hà nội

Câu chuyện Bà Đầm Xòe Hoa Kỳ lưu lạc qua Hà Nội là như vậy. Luân lý của câu chuyện có thể tóm vào những điều sau:

– Ý nghĩa chính yếu “Tự do soi sáng Thế giới” của tượng Thần Tự do nguyên thủy bị xuyên tạc hay bị lạm dụng khi người Pháp là kẻ thống trị muốn áp dụng cho người dân Việt Nam dưới ách lệ thuộc của mình; do đó giá trị cao đẹp của tượng Thần Tự do không được đón nhận hoan nghênh, trái lại còn bị gán ghép là biểu tượng của nô lệ đề cuối cùng bị giật đổ. Đây là bài học “Chính Danh là quan trọng” làm gương cho lịch sử.

– Trên khía cạnh triết lý, tượng đồng bia đá dầu có kiên cố và kỳ công bao nhiêu cũng không thể trường tồn với cảnh vật đổi sao dời của thế cuộc. Trường tồn vĩnh cửu có chăng là cái tinh thần ! Người Pháp đã dựng bao nhiêu tượng của họ trên đất nước Việt Nam bây giờ còn đâu nữa. Nói chung chung một cách khôi hài dí dỏm, bao nhiêu tượng của những người Pháp xâm luợc rốt cuộc cũng “hóa thân” vào bụng Phật trong ý nghĩa “ vô thường” của thế giới ta-bà này.

BS LÊ VĂN LÂN, 1/9/2005

(Nguồn: khoahoc.net)

BONUS 1:

[Mẫu tượng Thần Tự Do.] Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Hình ảnh công xưởng với mẫu tượng ở hậu cảnh]. Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Những người thợ thi công xây dựng tượng.] Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Công nhân gia công các tấm đồng của tượng.]. Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Gia công bộ khung và phủ bề mặt bàn tay và cánh tay trái.]. Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Công nhân gò các tấm đồng ghép tượng.]. Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Giàn giáo dựng để lắp giáp tượng, Paris.]. Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Quang cảnh khu vực dựng tượng ở Pais, ngổn ngang vật liệu, đầu bức tượng, và nhóm thợ tập trung phía trước chân trái tượng.]. Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Dựng tượng Thần Tự Do ở Paris, một nửa bức tượng đã dựng xong, đầu tuợng và ngọn đuốc còn nằm dưới chân.]. Fernique, Albert — Photographer. 1883

Fernique, Albert — Photographer. 1883

[Đầu bức tượng Thần Tự Do được trưng bầy tại một công viên ở Paris.]. Fernique, Albert — Photographer. 1883

BONUS 2:

Photo collection from Internet by ttnhan

Hà nội – Xưa và Nay – Phía Tây Hoàng Thành (1)

Nếu so sánh về các công trình kiến trúc nổi thì Hoàng Thành Thăng Long không còn được bao nhiêu (nghĩa là thua xa Huế), nhưng việc phát lộ những phế tích chìm sâu hàng nghìn năm trong lòng đất tại số 18 Hoàng Diệu đã đủ chứng tỏ những giá trị vô giá của kinh thành Thăng Long

(entry tổng hợp thông tin trên Internet)

Trước khi thực hiện dự án xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình, trên khu vực nằm giữa các đường phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn, theo luật Di sản văn hoá, tháng 12/2002 Chính phủ cho phép Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật trên diện rộng. Đây là cuộc khai quật khảo cổ học có quy mô lớn nhất ở Việt Nam và cũng vào loại lớn nhất ở Đông Nam Á. Việc phát lộ một phức hệ di tích – di vật vô cùng phong phú, đa dạng từ thành Đại La (thế kỷ VII – IX) đến thành Thăng Long (thế kỷ Xl -XVIII) và thành Hà Nội (thế kỷ XIX) đã thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước. Nhiều chuyên gia quốc tế, chủ yếu từ Nhật Bản trực tiếp tham gia dự án đặc biệt này

Theo các chuyên gia trong lịch sử hàng nghìn năm của mình La thành, thành Thăng Long, Hoàng Thành trải qua nhiều thay đổi, nhưng trung tâm của Hoàng Thành, đặc biệt là vị trí, qui mô của Cấm Thành thì gần như không thay đổi, chỉ có kiến trúc bên trong, dĩ nhiên, trải qua nhiều lần xây dựng, tu sửa. Nhưng nhờ việc người xưa khi xây dựng cung điện chủ yếu là san nền rồi xây lên, có đào móng trụ cho các chân cột cũng chỉ trên dưới 1m, nên các nền kiến trúc cũ được lấp đi và được lòng đất bảo quản cho tới ngày nay. Chính điều này giải thích tại sao trên khu di tích 18 Hoàng Diệu, các lớp di tích kiến trúc và di vật chồng lên nhau qua các thời kỳ lịch sử.

Trên toàn khu vực, vị trí nào cũng xuất lộ các tầng văn hóa có chứa các dấu tích lịch sử và văn hóa của Thăng Long – Hà Nội trong khoảng hơn 1.300 năm lịch sử. Nhìn chung lớp đất văn hóa này thường xuất hiện ở độ sâu khoảng từ 1m trở xuống và dày từ 2,0-3,50m.

– Gần mặt đất nhất là lớp văn hóa thời Lê có niên đại thế kỷ XV-XVIII.

– Ở độ sâu hơn là lớp văn hóa thời Lý (thế kỷ XI – XII) và thời Trần (thế kỷ XIII -XIV)

– Dưới cùng là lớp văn hóa thời Đại La (thế kỷ VII-IX).

click to comment

Dấu tích kiến trúc sớm nhất thuộc thời Đại La, cách đây 1300 năm. Đó là vết tích của các nền kiến trúc xếp bằng gạch màu xám, các chân tảng đá và những cột gỗ đang dựng trên các chân đá tảng (ảnh trên)

click to comment

Dấu vết nền cung điện thời Lý

click to comment

Các chân tảng được làm bằng đá xám, trên mặt có chạm cánh sen mang phong cách nghệ thuật thời Lý. Căn cứ vào đường kính trong của vành hoa sen và dấu vết cột dựng còn để lại trên mặt chân tảng người ta xác định được đường kính của cột gỗ dựng trên đó, từ đó dựng những giả thuyết về sức nặng, độ lớn của toà nhà.

click to comment

Vị trí và khoảng cách giữa các chân cột (được thay thế bằng những người đứng) cho phép xác định quy mô kiến trúc của toà nhà

click to comment

Dấu tích kiến trúc thời Lý – Trần

click to comment

Con đường lát gạch hoa chanh thời Trần. Dấu tích như thế này cũng đã tìm thấy ở Đoan Môn

click to comment

click to comment

Hệ thống rãnh hứng nước mưa rơi thẳng xuống từ hàng ngói lợp cuối cùng của mái (dân gian thường gọi là giọt gianh) giúp xác định giới hạn của mặt bằng mái. Nói cách khác, số đo giữa các rãnh thoát nước này cho biết về chiều rộng và chiều dài của công trình kiến trúc.

Hệ thống giếng nước

Một hệ thống các di tích giếng nước đã tìm thấy 11 chiếc gồm: 2 giếng thời Đại La, 2 giếng thời Lý, 2 giếng thời Trần, 3 giếng nước thời Lê và 2 giếng nước thời Lê – Nguyễn.

click to comment

Giá trị nhất là chiếc giếng cổ thời Đại La phát lộ ở độ sâu 5,9m. Trước đây ở Thăng Long không tìm ra kiến trúc Đại La cho đến khi lật nền đất 18 Hoàng Diệu. Trên chiếc giếng cổ này lại có lớp gạch xây thêm thời Lý, điều này minh chứng rõ thêm vị trí của kinh thành Thăng Long khi Vua Lý Thái Tổ dời đô. Theo GS Phan Huy Lê: “Điều đó cho thấy khi vua Lý Thái Tổ dời
đô về đây, đúng như nhà vua nói trong “Chiếu dời đô” là dời đô về “thành Đại La” của Cao Vương. Buổi đầu, nhà vua sử dụng thành Đại La cùng một số cung điện, kiến trúc có sẵn rồi cải tạo và mở mang thêm.”

Hình chi tiết giếng nước cổ Đại La

click to comment

Giếng nước cổ thời Lý

click to comment

Giếng nước cổ thời Trần

click to comment

Giếng nước cổ thời Lê

Dấu tích dòng sông cổ

Tại công truờng khai quật các nhà khảo cổ còn tìm thấy xác một con thuyền cổ còn khá nguyên vẹn cùng với một mảnh mái chèo bị vỡ. Tại sao giữa Hoàng Thành lại có thuyền này? Theo PGS Tống Trung Tín, người phụ trách công trường khai quật: vị trí của con thuyền chính là cạnh của dòng sông cổ chảy xuyên qua khu vực Hoàng Thành. “Con sông này khá rộng, hai bên bờ chúng tôi cũng đã tìm được dấu vết của những thân cây gỗ, đó chính là “đường giao thông” giữa các cung điện thời xưa, đồng thời cũng là nơi tiêu nước. Điều này trùng hợp với chi tiết chép trong sử cũ là vào đời Trần, có năm Hoàng Thành bị ngập nước, một vị trong hoàng tộc còn đi thuyền để tới các cung điện…” (*) Cũng theo ông Tín, xét về niên đại thì con thuyền này bị chìm vào thời Lê. Chung quanh nó có nhiều đồ gốm mang niên đại này, có cả một mảnh mái chèo phủ sơn… Rõ ràng việc đi lại trên dòng sông cổ đã kéo dài đến tận thế kỷ 17, sau đó mới chấm dứt.

click to comment

(*) Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1236, Trần Liễu, nhân nước to, vỡ tràn vào cung, đã đi thuyền vào chầu Vua, nhân thấy người cung phi, bèn cưỡng dâm. Đình thần hạch tội, giáng xuống làm Hoài Vương.

Gạch cổ

Hàng vạn viên gạch tìm được của rất nhiều thời kỳ, trong đó sớm nhất là gạch “Giang Tây quân” từ thời thành Đại La (thế kỷ VII đến IX), rồi gạch Long Thụy Thái Bình từ năm 1057… Qua những chữ khắc trên gạch ngói trang trí, người ta “đọc” ra niên đại của từng loại gạch, biết được về tổ chức sản xuất của xã hội từng thời, qua việc nghiên cứu các nơi sản xuất ghi trên gạch người ta có thể thống kê bao nhiêu đơn vị tham gia xây dựng thành.

click to comment

Thế kỷ 10. Tiêu biểu nhất là viên gạch bìa màu đỏ, mặt gạch in chữ ”Đại Việt quốc quân thành chuyên” (gạch xây quân thành của nước Đại Việt). Đây vốn là loại gạch rất phổ biến trong các kiến trúc thời Đinh – Lê ở Kinh đô Hoa Lư.

click to comment

Gạch “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (1507) – chế tạo năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057) đời vua thứ ba nhà Lý (vua Lý Thánh Tông).

Gạch đất nung trang trí hình hoa cúc vô cùng tinh xảo

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

Vật liệu trang trí xây dựng

click to comment

Dầy đặc trên bãi khai quật những vật liệu trang trí nóc cung điện

Sự phong phú chỉ riêng của các loại ngói ống, ngói úp nóc gắn hình rồng, hình uyên ương, hình lá đề trang trí hình chim phương… giúp ta hình dung về mức độ nguy nga tráng lệ của những toà cung điện từng tồn tại nơi này

Trình độ tay nghề cao của người xưa thể hiện qua độ tinh xảo đến tuyệt mỹ của các hoạ tiết rồng, phượng, uyên ương, hoa sen, hoa cúc…trên vật liệu xây dựng.

click to comment

Ngói úp nóc lớn hình lá đề trang trí hình chim phượng, thời Lý

click to comment

Rồng trang trí trên ngói úp nóc thời Lý

click
to comment

click to comment

click to comment

Lá đề rồng lệch thời Lý

click to comment

Ngói ống thời Trần gắn lá đề trang trí hình hai con rồng

click to comment

Tượng đầu chim phượng thời Trần

Đồ gốm

Cùng những phát hiện quan trọng về các dấu tích kiến trúc, một số lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong Hoàng cung qua nhiều thời kỳ cũng được tìm thấy. Sự xuất hiện phong phú các loại hình đồ gốm, bao gồm đồ gốm men, đồ sành, đồ đất nung với nhiều nguồn gốc: gốm Việt Nam, gốm Trung Quốc, gốm Nhật Bản, gốm Tây Á, có niên đại từ thế kỷ VII – IX đến thế kỷ XIX đã được góp phần minh chứng sinh động và đầy sức thuyết phục trên nhiều phương diện về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của Hoàng cung qua các thời kỳ lịch sử

Những đồ dùng trong hoàng cung như bát, đĩa, chum, vại đều ở trình độ cao, như đồ gốm sứ cao cấp thời Lý, Trần, gốm mỏng thời Lê trình độ không kém gì Trung Quốc, hoa văn rất đẹp, biểu trưng cho các quyền uy của hoàng gia. Khảo cổ học còn tìm thấy những “đồ ngự dụng” chỉ dành cho nhà vua như bát có hình rồng 5 móng.

Việc xác định niên đại của những đồ dùng trong cung giúp các nhà khảo cổ xác định tên của những cung điện nơi này. Ví dụ nhờ những đồ dùng có ghi rõ Trường Lạc khố, Trường Lạc cung (đồ ở cung Trường Lạc) các nhà khảo cổ đã xác định cung của hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng, vợ vua Lê Thánh Tông, sau là Hoàng thái hậu thời vua Lê Hiển Tông

Một số hiện vật gốm sứ thời Lý

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

Di cốt mộ cổ

Tại công trường khai quật khảo cổ khu di tích Hoàng Thành Thăng Long, 18 Hoàng Diệu, ngoài số lượng lớn các loại hình di tích, di vật, trong một số hố khai quật các nhà nghiên cứu còn phát hiện được nhiều di cốt người cổ. Những di cốt mộ cổ này đang còn ẩn chứa nhiều điều bí ẩn vì nó được phát hiện ngay trong khu vực Hoàng Thành Thăng Long. Chẳng hạn như ngôi mộ trẻ em song táng chôn ngay sát dưới chân tảng cột kiến trúc ở hố B16, đây có phải là kiểu táng thức liên quan đến tín ngưỡng hiến sinh như Nhật Bản hay Trung Quốc cổ đại hay không?… là vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu. Ngoài ra còn nhiều vấn đề xung quanh nguyên nhân cái chết của những di cốt chôn ở khu vực này.

click to comment

click to comment

click to comment

Entry này kết thúc bằng loạt ảnh của một sinh viên nước ngoài vào thăm khu khai quật khảo cổ 18 Hoàng Diệu trong chương trình tìm hiểu Di sản văn hoá các nước.

Trước năm 2004 để được vào Hoàng thành thấy Đoan Môn, Hậu Lâu và đặc biệt là nền điện Kính Thiên với đôi rồng đá có tuổi sấp sỉ 700 năm, người ta phái có thẻ loại A (loại thẻ cấp cho đối tượng đặc biệt). Ngay cả sau khi Cấm thành được trả lại cho thành phố, việc thăm quan nơi đây cũng chỉ là hiện thực vào các dịp lễ tết mặc dù biển di tích đề ngoài bằng vài ba thứ tiếng. Quan tâm, hứng thú mấy rồi cũng nản sau vài lần nhận được lời khước từ vì không phải ngày mở cửa. Người Hà nội thường xuyên có cơ hội qua nơi này còn vậy, nói chi tới người dân nơi khác về.

R
i đến năm 2003 giới chuyên môn hân hoan với việc phát hiện vết tích Hoàng thành ở khu 18 Hoàng Diệu, nhưng tới tận bây giờ khu vực đó vẫn bị được rào kín, ngoài giới chuyên môn chỉ các đoàn khách nước ngoài mới được vào thăm. Chắc có lẽ người nước ngoài cần đựợc ưu tiên biết về lịch sử nước Việt, hoặc thành phố Hà nội đang cần những lá phiếu ngoại vote cho quyết định của UNESCO công nhận di tích Hoàng thành là di sản văn hóa thế giới?

Không biết người khác thế nào chứ bộ nhớ của tôi tẩy rất nhanh những mớ kiến thức nhạt nhòa, chữ này vào, chữ kia tìm đường ra nếu không có những ấn tượng đem lại từ những yếu tố mang tính trực quan.

Hà nội – Xưa và Nay – Phía Tây Hoàng Thành(2)

“Vì đây không phải là vấn đề bí mật Quốc gia cho nên tôi đã quyết định đăng ý kiến đề nghị của tôi lên báo để đồng bào, đồng chí trong cả nước biết, nhưng đáng tiếc là không được đăng.”

Sau khi phát lộ những dấu tích vô giá của Hoàng Thành Thăng Long tại khu khai quật khảo cổ 18 Hoàng Diệu dư luận trong nước phản đối việc xây dựng Nhà Quốc hội và hội trường Ba Đình mới tại đây, Giới chuyên môn gọi đây là sai lầm lịch sử (link: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=174756&ChannelID=10). Tướng Giáp, ông Võ Văn Kiệt đều có thư phản đối quyết liệt.

click to comment

Thư ngỏ của ông Võ Văn Kiệt
Nguồn Báo SGGP 04/10/2007
Link:
http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2007/10/123730/

Với tư cách một công dân, một cử tri, hiện cư trú tại TPHCM, tôi mong muốn trình bày với ông Chủ tịch và toàn thể Quốc hội một vấn đề mà tôi cùng nhiều người Việt Nam đang rất quan tâm. Đó là: Chủ trương phá bỏ Hội trường Ba Đình, xây dựng công trình kiến trúc Nhà Quốc hội mới.

Trước đây, tôi là người đồng ý chủ trương xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình (mới) tại khu vực này. Bộ Chính trị cũng vậy. Nhưng khi đó, chúng ta chưa phát hiện những dấu tích của Hoàng thành Thăng Long, chưa có điều kiện để chứng kiến và đánh giá những di tích lịch sử quý giá đã nghìn năm tồn tại trong khu vực ấy. Nay, do một phần lớn diện tích thuộc phần di tích phải bảo tồn, nếu xây nhà Quốc hội, khu đất này chỉ còn lại 1,2 ha, thay vì khoảng 6 ha như trước. Mặt khác, không gian kiến trúc khu vực trước lăng Hồ Chủ Tịch cũng không cho phép tòa nhà có thể xây cao lên.

Chỉ trên 19.000m2 được khảo sát khảo cổ, lần đầu tiên trong lịch sử, các nhà khoa học nước ta đã phát hiện dưới lòng đất một kho tàng đang lưu giữ 13 thế kỷ xây dựng kinh đô Thăng Long của người Việt Nam với những bằng chứng không thể phủ nhận rằng: “Cha ông chúng ta đã từng sở hữu một nền nghệ thuật kiến trúc và xây dựng đô thị phát triển ở trình độ cao”.

Cùng với phát hiện đó, các nhà khảo cổ nước ta bước đầu đã chứng minh được rằng Khu Di tích 18 Hoàng Diệu nằm trong một không gian liên tục với khu thành cổ Hà Nội (trong đó có 9.395 m2 vừa được Bộ Quốc phòng bàn giao cho UBND thành phố Hà Nội ngày 24/11/2006). Hơn nữa, đã bước đầu xác định được khu 18 Hoàng Diệu thuộc phạm vi Cấm thành (trung tâm Hoàng Thành) của nhiều niên đại xây dựng thành Thăng Long cũ.

Những đánh giá này cũng được thể hiện rõ trong báo cáo của sử gia, Tiến sĩ Andrew Hardy (Đại học Quốc gia Úc), Trưởng đại diện Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội, lãnh đạo đội nghiên cứu di chỉ Ba Đình (nếu các vị thấy cần, tôi sẽ cung cấp bản báo cáo chi tiết). Sau khi nghiên cứu kỹ di chỉ Ba Đình, lựa chọn mà nhóm nghiên cứu đưa ra là: “Phải chấp nhận các thách thức do phát hiện khảo cổ học mang lại.

Điều này có nghĩa là bảo tồn toàn bộ di tích tại 18 Hoàng Diệu (bao gồm khu A, B, C và D theo sơ đồ của các nhà khảo cổ Viện KHXH Việt Nam). Nó cũng có nghĩa là phát triển khu vực xung quanh có liên quan đến thành cổ Thăng Long (giới hạn bởi các phố Phan Đình Phùng, Thuốc Bắc, Trần Phú và Hùng Vương) như một vùng văn hóa đặc biệt ở trung tâm Hà Nội. Hậu quả trước mắt của quyết định này có thể là đình chỉ tất cả các công trình xây lớn trong phạm vi vùng này, trong khi chờ đợi sự ban hành sắc lệnh bảo vệ di sản trong phạm vi khu vực”.

Như vậy là cùng với những gì còn sót lại trên mặt đất sau biến cố hàng ngàn năm lịch sử, nay nhờ công việc khảo cổ, chúng ta bước đầu biết rằng ngay trong lòng đất khu vực Ba Đình, có thể còn biết bao nhiêu kho tàng quý giá của cha ông. Trong sứ mệnh giáo dục lòng yêu nước cho các thế hệ con em và cho cả ngay chính chúng ta, có di tích nào quan trọng và lớn lao hơn thế?

Nhân đi Hà Nội dự khai mạc Quốc hội, sau khi nghe và trao đổi ý kiến với một số anh em, ngày 01/08/2007, tôi có gửi đồng chí TBT Nông Đức Mạnh một bức thư bày tỏ sự băn khoăn này, xin được trích dẫn một đoạn dưới đây: “Liên quan đến quy hoạch Hà Nội, tôi cũng có trao đổi với một số anh em về chủ trương xây dựng nhà Quốc hội tại Ba Đình, phá hội trường hiện tại. Có mấy vấn đề đặt ra mà còn nhiều ý kiến băn khoăn: hội trường Ba Đình hiện tại gắn với khu di tích, nên nếu hội trường mới làm lớn thì bị hạn chế nhất định, còn nếu làm nhỏ thì không đủ tầm, không phù hợp với xu thế phát triển.

Tôi nghĩ có cách nào mình giữ, tôn tạo được Hội trường Ba Đình, coi như một di tích lịch sử kế tiếp, ở đó gắn liền với quảng trường Ba Đình lịch sử, về ý nghĩa chính trị không đâu thay thế được. Nếu hội trường hiện tại có xuống cấp, hư hỏng thì với kỹ thuật hiện nay, việc khắc phục không mấy khó khăn. Ta kết hợp tôn tạo thành một quần thể di tích có cổ xưa, có đương đại. Thậm chí, nhiều cuộc họp quan trọng, mang ý nghĩa chính trị cao cũng không chỗ nào thay thế được khu trung tâm chính trị lớn này. Cá nhân tôi nghiêng về phía giữ lại khu Ba Đình với hội trường cũ, không thể xây dựng nhà Quốc hội mới đủ bề thế ở đây.

Quyết định này cũng liên quan đến hướng mở rộng quy hoạch Hà Nội. Phải chăng nên nghiên cứu lại ý định trước đây, dời Quốc hội về phía đường lên Hòa Lạc để có một diện tích xứng đáng, như thế vừa giữ lại khu Ba Đình mà vẫn xây nhà Quốc hội tầm cỡ”.

Thiết nghĩ, trước những công việc lớn ở tầm cao trách nhiệm như trên, Quốc hội đã đưa ra quyết định mà tôi cho rằng khá vội vã. Theo đó, Bộ Xây dựng đã gấp rút tiến hành tổ chức một cuộc thi hạn chế mà kết quả đầy khiếm khuyết đã được trưng bày tại Trung tâm Hội nghị quốc gia từ ngày 2 đến 15/9/2007.

Việc trưng bày một công trình có tầm quan trọng như thiết kế nhà Quốc hội tại một địa điểm quá xa trung tâm và trong một thời gian ngắn đã vô tình loại bỏ rất nhiều người dân muốn tham gia ý kiến nhưng không có thông tin hoặc không đủ điều kiện tới xem. Công trình nhà Quốc hội là một trong những biểu trưng cho quyền lực toàn dân, không thể vì bất cứ lý do gì mà nhân dân cả nước, đặc biệt, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam không được “Xem và tham gia ý kiến”.

Tôi đề nghị: Ban Tổ chức cần tiến hành trưng bày tại Đà Nẵng và TP.HCM để nhân dân và giới chuyên môn cả ở ba miền có điều kiện đóng góp ý kiến, và cũng để rút kinh nghiệm cho những lần khác, cho những công trình tiêu biểu khác của Quốc gia. Sau triển lãm, cần có tổng kết, công khai minh bạch kết quả và có kết luận cụ thể.

Bản thân tôi cũng như rất nhiều các ý kiến khác nghiêng về giải pháp giữ lại Hội trường Ba Đình trong tổng thể khu di tích. Tôi đồng ý Quốc hội cần có một trụ sở xứng đáng, nhưng không vì thế mà có thể vội vàng. Trước mắt, có thể cải tạo và sử dụng Hội trường Ba Đình, khi cần thiết trưng dụng thêm Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Khi ta có điều kiện hơn, và thời gian cũng đủ nhiều để có một công trình kiến trúc Nhà Quốc hội mới đủ tầm, không phụ thuộc vào diện tích hay bị hạn chế mặt này mặt khác.

Đồng thời trong lúc này, ta tranh thủ xúc tiến vận động để UNESCO công nhận Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới. Việc này sẽ rất có ý nghĩa nhân dịp Hà Nội kỷ niệm nghìn năm Thăng Long vào năm 2010.

Hơn nữa, xây dựng công trình nhà Quốc hội tai đây, các nhà kiến trúc có lường được sự chấn động khi giải pháp thi công cơ giới với thiết bị nặng sẽ làm nứt vỡ các tầng văn hóa rất momg manh của Khu Di tích 18 Hoàng Diệu nằm ngay bên cạnh? Lúc ấy người chịu trách nhiệm sẽ là ai?

Nhân đây, tôi xin lưu ý thêm với các đồng chí. Không thể xây dựng một công trình có ý nghĩa quan trọng như vậy mà lại lấy lý do chào mừng kỷ niệm nghìn năm Thăng Long, để rồi tiến hành vội vã. Chúng ta đã có kinh nghiệm về những sự trả giá cho những công trình chạy đua để chào mừng lễ lạt. Nhân Thăng Long nghìn năm tuổi, chúng ta càng phải nhận thức rõ hơn về mặt thời gian. Ý nghĩa của một công trình là ở những giá trị bền lâu, chứ không phải ở chỗ, nó được cắt băng khánh thành trong một ngày đại lễ.

Mặt khác, không thể nhân danh lịch sử để cư xử thiếu cân nhắc với những di tích hiện thân của lịch sử. Nếu thấy cần thiết, Quốc hội nên lấy ý kiến nhân dân. Muốn thế, chúng ta phải thực sự cầu thị, tổ chức theo những phương thức mà nhân dân có thể tham gia thực sự chứ không phải chỉ lấy ý kiến nhân dân cho có lệ. Đây là một công việc hệ trọng, các vị đại biểu Quốc hội đang thay mặt Nhà nước và toàn thể nhân dân đưa ra những quyết định tác động đến lịch sử. Cần lắng nghe và cân nhắc rất cẩn trọng.

Nguyên Thủ tướng
Võ Văn Kiệt

Việc đăng bức thư dưới đây là nguyên nhân chính đẫn đến việc TBT Lý Tiến Dũng mất chức

Thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:
Nguồn: Báo Đại Đoàn Kết (1-11-07)
Link
: http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?id=903

Ngay từ đầu, khi đặt vấn đề xây dựng Nhà Quốc hội, tôi đã có ý kiến đề nghị với đồng chí Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và đồng chí Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng là cần bảo tồn toàn bộ khu di tích 18 Hoàng Diệu và Hội trường Ba Đình – một di tích không thể thiếu của bề dày lịch sử 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và tôi có đề nghị hai phương án:

1. Nếu thật sự cần thiết phải xây dựng ngay Nhà Quốc hội lúc này thì nên chọn một vị trí khác, địa thế rộng rãi hơn. Lúc ấy tôi được biết Chính phủ đã có phương án xây dựng Nhà Quốc hội ở khu vực phía Nam quảng trường Ba Đình và chủ trương bảo tồn toàn bộ khu di tích 18 Hoàng Diệu kể cả Hội trường Ba Đình.

2. Chúng ta đang cần tập trung nguồn lực để xây dựng đất nước và chúng ta vừa xây dựng khu Mỹ Đình khá khang trang hiện đại nhưng sử dụng còn hạn chế. Vì vậy, tôi đề nghị nên nghiên cứu cách vừa sử dụng Hội trường Ba Đình vừa sử dụng khu Mỹ Đình để Quốc hội làm việc, hội họp mà chưa nên xây dựng Nhà Quốc hội ngay lúc này.

Đến tháng 10-2006, tôi rất bất ngờ và sửng sốt được biết Bộ Chính trị và Chính phủ lại chỉ đạo cơ quan nghiên cứu trình Quốc hội phương án xây dựng Nhà Quốc hội tại khu 18 Hoàng Diệu và tôi đã viết thư ngay tha thiết đề nghị các đồng chí xem xét lại chủ trương này. Đến 20-2-2007, tôi đã viết bài đăng báo Nhân Dân và váo Hà Nội Mới nêu ý kiến, thủ đô chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm T
hăng Long Hà Nội cần phải giữ gìn, tu bổ bảo tồn lâu dài toàn bộ khu di tích Hoàng Thành xưa và các di tích cách mạng kháng chiến thời đại Hồ Chí Minh như Hội trường Ba Đình, trụ sở Bộ Tồng Tư lệnh Quân đội nhân dân…

Vừa qua, tôi được biết ngành xây dựng lại vẫn đưa ra phương án làm Nhà Quốc hội tại khu 18 Hoàng Diệu và hơn thế nữa còn đề nghị phá bỏ cả Hội trường Ba Đình để làm Nhà Quốc hội trên khuôn viên ấy, có lấn ra xung quanh, với lý do Hội trường Ba Đình đã xuống cấp, sửa chữa rất tốn kém và đã được Bộ Chính trị, Chính phủ đồng ý trình ra Quốc hội, Quốc hội đã biểu quyết với đa số đồng ý. Lý do mà các đồng chí nêu lên không thể biện minh được. Đã là di tích lịch sử mà xuống cấp thì phải tu sửa, bảo tồn chứ không phải phá bỏ đi. Hội trường Ba Đình là một di tích cực kỳ quan trọng của thời đại Hồ Chí Minh. Nơi đây đã diễn ra những sự kiện lịch sử để lại dấu ấn rất sâu sắc trong tâm khảm mỗi người Việt Nam. Là nơi đã diễn ra 7 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, nơi họp và làm việc của Quốc hội từ khoá II liên tiếp cho đến ngày nay, nơi đã diễn ra Hội nghị chính trị đặc biệt một kiểu Hội nghị Diên Hồng thời đại Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ… Ấn tượng sâu sắc nhất là tại đây, Bác Hồ đã từng tham dự nhiều cuộc họp quan trọng của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và cuối cùng, đây là nời toàn Đảng, toàn dân ta đã tiến hành lễ tang Bác, cả nước vô cùng xúc động hướng về Hội trường Ba Đình lịch sử để tiễn biệt Bác ra đi với niềm tiếc thương vô hạn. Di tích lịch sử vô giá ấy sao chúng ta có thể xoá bỏ đi được.

Về mặt kiến trúc, đây còn là một hội trường lớn nhất, đẹp nhất của kiến trúc Việt Nam thời bấy giờ. Chúng ta nghĩ thế nào khi thấy cần phải bảo tồn Dinh Độc lập (Hội trường Thống Nhất) mà lại quyết định phá bỏ Hội trường Ba Đình?

Hiện nay, mặc dầu Quốc hội đã biểu quyết, nhưng cán bộ và nhân dân còn có nhiều ý kiến, lòng dân chưa yên. Nhiều đồng chí lão thành cách mạng, cán bộ cấp cao, nhà khoa học đề nghị Quốc hội cân nhắc lại và ngay trong Quốc hội vẫn còn trên 30 đại biểu biểu quyết không tán thành phá bỏ Hội trường Ba Đình.

Riêng tôi, một lân nữa xin nêu lại ý kiến dứt khoát không nên làm nhà Quốc hội tại khu di tích 18 Hoàng Diệu và tuyệt đối không được phá bỏ Hội trường Ba Đình.

Tôi đồng ý với ý kiến của anh Võ Văn Kiệt đã nêu trên báo Thanh Niên là nếu Hội trường Ba Đình xuống cấp thì tu sửa lại. Chúng ta có đầy đủ khả năng làm được việc ấy.

Vì vậy tôi tha thiết đề nghị Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ cân nhắc lại, bàn lại chủ trương này. Trước khi bàn cần lấy ý kiến rộng rãi của cán bộ và nhân dân. Hiện nay Ban dự án đang trình bày các mô hình Nhà Quốc hội để lấy ý kiến của nhân dân trong cả nước, tôi đề nghị cần lấy cả ý kiến nhân dân về ý định phá bỏ Hội trường Ba Đình để làm Nhà Quốc hội lên vị trí ấy. Vấn đề này cũng nên đưa ra thảo luận trên báo chí để cán bộ và nhân dân được tham gia ý kiến. Trên cơ sở thu thập ý kiến rộng rãi của cán bộ và nhân dân, tôi đề nghị Bộ Chính trị có cuộc họp bàn lại vấn đề này. Đề nghị Quốc hội tổ chức một phiên họp toàn thể đặc biệt (không thể chỉ thảo luận ở tổ) để bàn bạc, thảo luận thực sự dân chủ, phân tích kỹ những ý kiến khác nhau, lợi và hại của việc để và phá bỏ Hội trường Ba Đình, trước khi đi đến biểu quyết và có quyết định cuối cùng.

Đây là một chủ trương cụ thể, nhưng là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng về chính trị, lịch sử, văn hoá, tình cảm của nhân dân Thủ đô và của cả dân tộc. Chuẩn bị kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, chúng ta càng cần phải bảo tồn thật tốt toàn bộ khu di tích 18 Hoàng Diệu và Hội trường Ba Đình. Việc xây dựng Nhà Quốc hội không nên quá lệ thuộc vào thời gian làm chỉ kịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội để quyết định vội, xây dựng vội, làm ảnh hưởng đến chất lượng và thẩm mỹ kiến trúc của công trình Thế kỷ quan trọng này.

Những nội dung đề nghị trên đây tôi đã có thư gửi đến Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ngày 23 tháng 9 năm 2007.

Một lần nữa tôi muốn nhấn mạnh ý kiến : lúc này ta cần tập trung tiền của và lực lượng để ra sức phát triển kinh tế văn hoá, thiết thực nâng cao đời sống nhân dân mà chưa xây dựng Nhà Quốc hội. Quốc hội tiếp tục sử dụng Hội trường Ba Đình và khu Mỹ Đình (hiện chưa sử dụng hết công suất, còn lãng phí) để hội họp và làm việc. Công sở làm việc của cơ quan nhà nước cũng cần được xây dựng khang trang, nhưng hãy chờ một thời gian nữa, khi đất nước thoát khỏi cảnh một nước nghèo, một nước kém phát triển rồi ta hãy xây dựng.

Trong lúc đó chúng ta tiếp tục nghiên cứu địa điểm xây dựng, chọn mô hình Nhà Quốc hội đáp ứng các yêu cầu của một công trình tiêu biểu của đất nước, có quy mô tương xứng, có chất lượng bền, đẹp vừa dân tộc vừa hiện đại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Một thư khác

1.
Kính gửi:
Đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
Và các đồng chí trong Bộ Chính trị , Ban bí thư
Đồng chí Nguyễn Minh Triết Chủ tịch nước
Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng Thủ tướng Chính phủ
Và các đồng chí thành viên Chính phủ
Đồng chí Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc Hội
Và các đồng chí đại biểu Quốc Hội

Tôi xin gửi đến các đồng chí bài báo tôi đã gửi đến một số báo để đăng ngày 10-10-2007, nhưng đã bị ngăn lại không cho báo đăng. M
t việc làm mất dân chủ và vi phạm quyền công dân.

Tôi vẫn cho rằng, chủ trương phá bỏ Hội Trường Ba Đình, một di tích lịch sử quan trọng nhất của thời đại Hồ Chí Minh để xây dựng Nhà Quốc Hội lên vị trí ấy là sai lầm, chưa phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân.

Tôi nghĩ vấn đề này không phải là vấn đề phải đòi hỏi phải quyết định nhanh nếu không thì thất bại. Do đó mặc dầu đã quyết định, nhưng khi thấy vấn đề phải cân nhắc, có vấn đề lòng dân và còn thời gian thì ta nên cân nhắc lại, dân chủ bàn bạc thêm để tìm ra phương án tối ưu. Trong lịch sử cũng đã từng có những sự kiện quyết định rồi , nhưng có lúc vẫn phải cân nhắc lại và thay đổi ý kiến. Làm như vậy càng thể hiện Đảng và Nhà nước ta rất có trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng nhân dân.

Vì trách nhiệm đối với lịch sử, đối với dân tộc, một lần nữa tôi vẫn đề nghị Bộ Chính trị cần cân nhắc lại. Sắp tới Quốc Hội họp cũng cần cân nhắc lại, chưa vội phá bỏ Hội Trường Ba Đình, thực hiện mở rộng dân chủ bàn bạc công khai kể cả trên báo chí, trưng cầu ý kiến cán bộ và nhân dân trong cả nước về chủ trương này, rồi mới đi đến quyết định. Bảo đảm thuận lòng dân đối với vấn đề này là cực kỳ quan trọng.

Tôi đã có thư gửi các đồng chí, nhưng vừa qua nhiều cán bộ gọi điện đến Văn phòng hỏi: Ý kiến anh Văn về vấn đề này như thế nào? Vì đây không phải là vấn đề bí mật Quốc gia cho nên tôi đã quyết định đăng ý kiến đề nghị của tôi lên báo để đồng bào, đồng chí trong cả nước biết, nhưng đáng tiếc là không được đăng.

Chào thân ái,
Hà Nội ngày 11-10-2007
Võ Nguyên Giáp

Và thêm một thư nữa

2.
Kính gửi: Đồng chí Nông Đức Mạnh
Và các đồng chí trong Bộ Chính trị

Một lần nữa tôi lại viết thư kiến nghị đến các đồng chí về vấn đề Hội Trường Ba Đình và Nhà Quốc Hội. Có lẽ chưa có vấn đề nào mà tôi lại kiên trì nêu ý kiến với các đồng chí như thế này.

Tôi hoan nghênh Bộ Chính trị đã chỉ đạo các ngành có liên quan tổng hợp ý kiến các đồng chí lão thành, cán bộ, nhân dân về vấn đề này để Bộ Chính trị họp cân nhắc xem xét. Tôi mong các đồng chí cân nhaqức một cách thật nghiêm túc, lắng nghe các ý kiến khác nhau một cách khách quan khoa học; đặc biệt là trực tiếp nghe ý kiến các Hội chuyên ngành, các chuyên gia , các nhà khoa học đầu ngành có liên quan đến vấn đề này.

Tôi được biết vừa qua Chính phủ đã giao cho Bộ xây dựng tổ chức cuộc họp với hơn 20 cán bộ khoa học đầu ngành về kiến trúc, xây dựng, quy hoạch, lịch sử… Tại cuộc họp này, đại đa số ý kiến đều cho rằng trong phạm vi khuôn viên Hội Trường Ba Đình rộng 1,2 ha không thể nào xây dựng Nhà Quốc Hội đúng với tầm cỡ của Công trình này và đã có nhiều kiến nghị đề nghị tìm một địa điểm ngoài lô D để xây dựng Nhà Quốc Hội, đồng thời bảo tồn Hội Trường Ba Đình là một di tích lịch sử quý giá của thời đại Hồ Chí Minh.

Ý kiến các chuyên gia ấy tôi cho là đúng, và tôi cũng nhận được nhiều thư của các đồng chí lão thành, các nhà khoa học nói lên kiến nghị như vậy. Vì vậy, tôi cho rằng chủ trương đã quyết định về vấn đề này là một sai lầm kép: Vừa làm mất đi một di tích cực kỳ quan trọng của thời đại Hồ Chí Minh, vừa làm Nhà Quốc Hội vào một vị trí không phù hợp; diện tích chật hẹp phá vỡ sự hài hoà của cảnh quan khu Ba Đình và khi sử dụng sẽ gây nên khó khăn về giao thông, trật tự.

Việc cần giữ lại Hội Trường Ba Đình không những là ý kiến của nhiều đồng chí lão thành mà các cháu thanh niên cũng nghĩ như vậy. Có cháu nhà báo trên 20 tuổi đã nói với tôi: Bác ơi, nếu phá Hội Trường Ba Đình là có tội với dân tộc. Tôi cũng nghĩ như vậy. Chúng ta phá Hội Trường Ba Đình là có tội với lịch sử. Bộ Chính trị năm 2003 đã kết luận phải lưu giữ Hội Trường Ba Đình làm di tích lịch sử (Thông báo số 126 – TB/TW 05-11-2003). Nay Bộ Chính trị lại thay đổi quyết định trước đây, phá bỏ Hội Trường Ba Đình mà không cho bàn bạc gì thêm. Nếu Bộ Chính trị hiện nay cho rằng phải giữ nguyên tắc tập thể đã bàn, đã quyết định rồi thì không bàn lại, không nghe ý kiến gì nữa, vậy là nguyên tắc máy móc. Mọi quyết định đều phải đặt lợi ích của dân tộc , của nhân dân lên trên hết.

Trong lịch sử cũng đã có chủ trương bàn rồi, đã có nghị quyết rồi, nhưng khi phát hiện còn có vấn đề quan trọng phải cân nhắc thì đã bàn lại và thay đổi chủ trương đúng đắn hơn. Ví như, sự thay đổi của Nghị quyết Trung ương 8 năm 1941 về đường lối cách mạng Việt Nam so với Nghị quyết Trung ương 6, Trung ương 7, ví như thay đổi phương châm tác chiến trong trận Điện Biên Phủ, thay đổi kế hoạch giải phóng Miền Nam , thay đổi Báo cáo Chính trị của Đại Hội 6, thay đổi cao trình đập thủ điện Sơn La vv… Điều đó chứng tỏ Đảng ta có trí tuệ và luôn nêu cao trách nhiệm trước nhân dân , trước dân tộc. Chúng ta đừng lập lại sai lầm như quyết định thay đổi Quốc ca trước đây.

Vấn đề thì đã rõ. Tôi cho rằng đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh là người có trách nhiệm chính về vấn đề này. Một lần nữa, tôi mong đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí trong Bộ Chính trị hãy thay đổi ý kiến, lãnh đạo Chính phủ và Quốc Hội bàn lại, thay đổi chủ trương này, đừng để lịch sử và các thế hệ mai sau phê phán thế hệ lãnh đạo hiện nay đã phá bỏ Hội Trường Ba Đình, một di tích lịch sử cực kỳ quan trọng của thời đại Hồ Chí Minh.

Đây là một vấn đề lớn, gắn với tình cảm và trách nhiệm của nhân dân Thủ đô, nhân dân cả nước, nên tôi đề nghị lắng nghe ý kiến của cán bộ và nhân dân. Tôi đề nghị đăng bài của tôi lên báo, nếu tôi nói không đúng thì độc giả sẽ có ý kiến, đừng bưng bít, đừng độc quyền chân lý, vừa mất dân chủ, vừa vi phạm Hiến Pháp, gây ảnh hưởng xấu đến nền dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa của chúng ta.

Chào thân ái,
Hà Nội ngày 24-10-2007
Võ Nguyên Giáp

Và cuối cùng … toà nhà này đã trở thành quá khứ giống như những toà cung điện đã từng tồn tại nơi này hàng nghìn năm về trước.

click to comment

click to comment

click to comment

Hà nội – Xưa và Nay – Phía Đông Hoàng thành

Suốt một thời gian rất dài phần đông người Hà nội không biết đến đường Nguyễn Tri Phương, dù nó nằm ngay phía Đông Cấm Thành. Đây là con đường cấm với doanh trại quân đội, các cơ quan quân sự và nhà riêng của các tướng lĩnh. Tới những năm 2000 hai trạm gác đầu phố phía Phan Đình Phùng và Điện Biên Phủ mới được xóa bỏ và người dân Hà nội mới được qua lại con đường này.

(Hình ảnh trong entry này sắp xếp không theo trình tự thời gian, mà theo trình tự không gian của một đường phố)

9

Góc đường Điện Biên Phủ – Nguyễn Tri Phương. Ảnh chụp từ đỉnh Cột cờ Hà nội, nơi người ta vẫn chưa dẹp bỏ những tấm biển cấm quay phim, chụp ảnh không còn hiệu lực.

10

Hình ảnh hơn một trăm năm trước của toà nhà ngày nay là Bảo tàng Quân sự Việt nam.

click to comment

Tấm bản đồ quân sự do trung tá De Migs – chỉ huy pháo binh (Lieutenant Colonel Directeur d’ Artillerie) trình kí ngày 07/12/1893 giúp ta hình dung rõ ràng hơn về khu vực phía Đông Hoàng thành (với 3 con đường: Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thiệp và Lý Nam Đế).

7

Đối diện với Kì Đài, kéo dài từ đầu đường Nguyễn Tri Phương – Điện Biên Phủ đến giữa sân vận động Cột cờ ngày nay là trại lính tập (casernement des tirailleurs tonkinoise).

160054

Lối vào trại lính tập (người dân quen gọi lính khố xanh, khố đỏ)

530_001

Hình ảnh bên trong trại lính. Đây là một trong nhiều bức ảnh chụp đội quân thiếu nhi được người Pháp tuyển chọn và đào tạo từ nhỏ.

8

Bãi huấn luyện trong trại lính tập

973_001

Vẫn theo trình tự không gian, tuy nếu so sánh sẽ thấy bức ảnh này chụp thời gian sau vì cả hai bên đường đều có thêm nhiều công trình mới

6

Khuôn viên pháo binh (parc d’ artillier) nằm phía sau trại lính tập, đối diện với Đoan Môn và kết thúc bằng phố Cửa Đông. Đây là khu vực kĩ thuật với các kho bãi và công xưởng.

71

3

Khuôn viên pháo binh chụp từ Đoan Môn. Đằng sau khu kho bãi và xưởng kĩ thuật này là trại lính Pháp – đơn vị lục quân số 9 (casernement d’ infanterier de marine). Xem thêm hình ảnh khu trại lính này

4

Với thời gian khu công xưởng này được hiện đại hoá và giữ gìn bí mật hơn

337_001

Trên bản đồ còn chỉ rõ, cuối đường Nguyễn Tri Phương giáp Phan Đình Phùng là đội pháo (Quartier des batteries d’ Artillerie de Marine).

5

Toàn cảnh con đường Nguyễn Tri Phương chụp từ Kì Đài

click to commentclick to commentclick to commentclick to commentclick to comment

Hình ảnh phía Đông Hoàng thành xưa trên Google

DSC_9393

Nếu khu vực phía Tây thành c
Hà nội đã và đang làm dư luận ồn ào về việc xây nhà quốc hội trên nền Hoàng thành xưa, thì khu vực phía Đông đã yên vị những toà nhà kiên cố của Bộ Quốc Phòng.

Căn cứ vào tấm bản đồ trên, ngay từ cuối thế kỉ XIX, khi quy hoạch phía Đông Hoàng thành, quân đội Pháp đã dành lại một dải đất nằm giữa phố Tôn Thất Thiệp và Lý Nam Đế ngày nay để làm thao trường (terrain militaire) và nhà ở cho sĩ quan (logement d’ officiers). Nơi đây hiện giờ là tư dinh của các tướng lĩnh Việt nam

Photto by ttnhan
Location: Hanoi Flag Tower

Hanoi Militaire

Những tấm bưu thiếp của Pierre Dieulefils với chủ đề Hà nội Quân sự

Hanoi Militaire

Khu quân sự trong thành

2

Khuôn viên pháo binh phía sau trại lính đoan (đoạn phố Nguyễn Tri Phương và phố Cửa Đông, nơi hiện giờ là tòa nhà Bộ quốc phòng)

4

Bộ tham mưu trong khu nhượng địa (phố Phạm Ngũ Lão ngày nay)

668_0211

Trại lính bản xứ khu Đồn Thuỷ

3

Kì Đài trở thành trạm điện báo quân sự (ảnh chụp góc đường ngày nay là Điện Biên Phủ và Nguyễn Tri Phương)

Cot co Hanoi

Sở chỉ huy pháo binh dựng trên nền điện Kính Thiên trong Cấm Thành

Thềm điện kính thiên'

Trại lính tập phía Đông Hoàng Thành (khu vực nằm giữa phố Nguyễn Tri Phương và Lý Nam Đế ngày nay)

1

Những bức kí họa Hà nội xưa

Trên những bức vẽ Hà nội cổ thường gặp những dòng chú thích: Dessin d’ aprés une photographie (hình vẽ theo ảnh gốc) và Dessin d’après un croquis (hình vẽ theo kí hoạ). Tính xác thực của cảnh vật trong những cách vẽ này như thế nào?

Dessin d’apres une photographie – Các bức vẽ này khi đối chiếu với ảnh gốc có thể thấy chúng hoàn toàn đủ tin cậy để sử dụng như ảnh tư liệu

fumeurs_opium

Hút thuốc phiện

Fumeurs d'opium

tirailleurs_tonkinois_Linh_Tap

Lính tập

Tirailleurs Tonkinois

1437818286_2650572364_o

Chốt canh lối vào khu nhượng địa

HANOI_poste de soldats

PorteVieille01

Một cổng phố Hà nội (được dựng nhằm mục đích bảo đảm an ninh cho cư dân sống trong phố)

PorteVieille

ko-ten-1

Cổng phố Hàng Ngang

Porte de la rue de Canton

RueJeanDupuisPorteEn1886

Cổng phố Ô Quan Trưởng thời rất xưa khi còn dựng bằng tre và gỗ

CitadelleVueGenerale

Dessin d’ apres un croquis : Các yếu tố chủ quan, ước lệ, tưởng tượng làm sai lệch đối tượng được miêu tả. Bấm vào đường links để so sánh

CitadelleTour

Link: Kì Đài

CitadelleMagasins

Link: Đoan Môn

TempleDeLEspritDuRoi

Link: Điện Kính Thiên

CitadellePorte1

Link: Các cửa thành

CitadellePorte

Hà nội – Xưa và Nay – Những cửa thành đã mất – Cửa Đông

Chính Môn Đông nằm phía Đông Hoàng Thành, dẫn vào khu cư dân sầm uất nhất kinh thành – khu phố cổ quận Hoàn Kiếm ngày nay. Cũng như Cửa Nam, Cửa Đông ngày nay chỉ còn là tên một con phố.

Charcutier ambulant

Cua Dong

Trước kia có một đường đi cũ trong thành từ cửa Đoan Môn ra đến Chính Đông Môn, qua cổng thành và dương mã thành, qua cầu bắc trên hào, để ra ngoài, tại đây con đường quặt về hướng đông nam một quãng mới toả đi các phố của khu Cửa Đông (khu phố cổ của quận Hoàn Kiếm ngày nay).

untitled

Chính Môn Đông năm 1885 với phía trong là các khu nhà trại lính Pháp. Trên bức ảnh vẫn thấy rõ dấu tích cây cầu bắc qua hào.

Cửa Đông 1885

Chính Đông Môn nhìn từ phía trại lính…

Cửa Đôngphía bên trong

…nơi trồng rất nhiều phượng vĩ.

506_001

Khi Chính Môn Đông, tường thành và con hào bị phá bỏ, người Pháp cho mở một con đường mới thẳng từ Cổng Tỉnh (chiếc cổng sắt lớn thay cho Chính Đông Môn) ra khu phố cũ, con đường mới đó được đặt tên là Rue Général Bichot, nhân dân ta cứ quen gọi là phố Cửa Đông hoặc con đường Cổng Tỉnh.

Cửa Đông

Trên bản đồ Hà nội phố Cửa Đông bắt đầu từ phía đường Nguyễn Tri Phương, nhưng trên thực tế từ thời Pháp tới nay đây là khu vực quann sự nên người dân Hà nội chỉ biết nó là một đoạn phố ngắn vài trăm mét từ cổng khu doanh trại (Cổng Tỉnh) qua Cầu Sắt (phần cầu cạn dẫn lên cầu Long Biên) chạy đến phố Hàng Gà. Phần chính cửa phố Cửa Đong ngày nay nằm trong khuôn viên Bộ Quôc Phòng.

Của Đông

BONUS:

Quân đội Pháp biến Cấm Thành thành sở chỉ huy pháo binh, còn phía Đông Hoàng Thành (khu vực giữa hai con đường Nguyễn Tri Phương và Lý Nam Đế) trở thành một trại lính khổng lồ.

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

click to comment

Photo Collection by ttnhan

Hà nội – Xưa và Nay – Những cửa thành đã mất – Cửa Nam

Phía nam thành Hà nội có hai cửa: cửa Tây Nam và cửa Đông Nam (cửa Đại Hưng), tất cả đã mất theo thời gian. Cửa Nam chỉ còn trong tên một con phố nơi có những tên đất như Đình Ngang (nơi dừng lại để soát xét giấy tờ, thẻ bài trước khi vào Hoàng Thành), Cấm Chỉ (dừng nơi khu cấm) và một góc cái vườn hoa thời Pháp thuộc có dựng tượng “Bà đầm xòe”.

Theo GS Trần Quốc Vượng:

Căn cứ vào câu thơ của nho sĩ Hà Thành cuối thế kỷ XIX:

Tới Quảng Minh đình tớ muốn nghe
Quảng Minh không thấy, thấy Đầm Xòe!”.

Quảng Minh đình đời Minh Mạng là nơi hàng tháng có quan tới giảng “Thập điều” (10 điều trung hiếu tiết nghĩa) bắt dân đi nghe. Quảng Minh đình, như sử chép là xây dựng trên nền Quảng Văn đình đời Lê Thánh Tông, là nơi dán bố cáo, mệnh lệnh của vua quan, cho dân biết mà thi hành. Nếu được phép khai quật vườn hoa Cửa Nam, nhà khảo cổ có thể tìm thấy nền cũ Quảng Minh đình rồi Quảng Văn đình.

1866

Hình ảnh Cửa Nam ra sao? Dưới đây là một số bức kí hoạ mô tả trận tấn công thành Hà nội của Francis Garnier diễn ra ngày 20 tháng 11 năm 1873.

Năm 1873, Soái phủ Nam Kỳ phái Francis Garnier đem quân ra Hà Nội, lấy cớ giúp thương nghị sự tranh cãi giữa tay lái buôn Jean Dupuis và chính quyền nhà Nguyễn ở Bắc kỳ.

Thoạt tiên Đô đốc Dupré định đưa ra hai ngàn quân, tuy nhiên việc phái một lực lượng quân sự lớn như vậy gây nghi ngờ từ phía triều đình Huế. Kết cục là đại úy Garnier thuyết phục đô đốc Dupré là chỉ cần vài chục binh sỹ tinh nhuệ là đủ. Trên giấy tờ, Garnier có lệnh điều tra tình hình tranh cãi giữa Dupuis và nhà đương cục, trục xuất Dupuis khỏi Bắc kỳ sau khi đã thu xếp bồi thường thiệt hại cho ông ta. Tiếp đó Garnier phải buộc nhà đương cục chấp thuận mở cửa thông thương tuyến đường thủy sông Hồng, đặt trạm thuế quan và dùng tiền thuế thu được để hoàn trả phí tổn cuộc viễn hành.

Tuy nhiên thực tế là Garnier đã rất hoan hỉ viết thư cho anh trai “Tôi có toàn quyền hành động! Nước Pháp tiến lên!”. Garnier chuyển quân ra bắc thành hai đợt, đợt đầu 83 lính, đợt hai thêm 88 lính và hai pháo thuyền (kể cả số thủy thủ và thủy binh). Tới ngày 5 tháng 11 ông ta đã đến Hà Nội trên tàu hơi nước của Dupuis, do Dupuis đi đón dọc đường. Cộng với thuộc hạ của Dupuis, gồm có 10 người Âu, 30 người Á, 150 lính đánh thuê Vân Nam và một số lính Cờ vàng, Garnier chuẩn bị đánh chiếm thành Hà Nội sau khi nhận thấy các yêu sách của mình không đe dọa được Nguyễn Tri Phương.

Đêm ngày 19, rạng sáng ngày 20 tháng 11 năm 1873, Garnier đánh úp thành Hà Nội. Quân Pháp bất ngờ đánh chiếm vòng phòng thủ bên ngoài của hai cửa phía nam, và vượt qua cầu trước khi quân trú phòng kịp bắn xuống. Đồng thời, pháo từ các pháo thuyền cũng bắn lên, khiến cho binh lính phòng thủ, do không quen với đạn pháo, bỏ chạy tán loạn khỏi thành theo cửa tây. Cùng lúc đó, hỏa lực quân Pháp cũng bắn vỡ cửa nam, và chỉ trong một giờ, quân Pháp đã treo cờ tam tài lên vọng lâu thành Hà Nội.

prise de Hanoi par F.G 1873

Bức hoạ dưới có chú thích bằng tiếng Pháp ” Citadelle Attaque 20 11 1873 par Francis Garnier Porte Sud – Est” – Cuộc tấn công thành ngày 20/11/1873 của Francis Garnier – Cửa Đông Nam (Cửa Đại Hưng)

phaptancongcua nam20.11.1873

CitadelleHanoi2

Bức ảnh Cửa nam đổ nát, phía trong thấy rõ Kì Đài và Đoan Môn

Cửa Nam

Sau khi bị chiếm, thành Hà nội bị người Pháp cho san bằng, năm cửa thành chỉ còn lại duy nhất Cửa Bắc. Cái tên Cửa nam chỉ còn lưu lại trong tên một con phố gần đó.

VHCN1

Vườn hoa Cửa nam (vườn hoa Neyret) nơi có tượng Bà đầm xoè

VHCN

than-tu-do

tttd

Photo collection by ttnhan

Hà nội – Xưa và Nay – Những cửa thành đã mất – Cửa Tây

Trong bài viết: “Những vết tích của Hoàng Thành Thăng Long trên mặt đất và dưới lòng đất” GS Trần Quốc Vưọng tiết lộ:

Mùa hè năm 1973, sau Hiệp định Paris, Nhà nước ta mở công trường xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Trường Chinh, Trưởng ban chỉ đạo xây dựng Lăng, có dự cảm là nơi đây kề cận Hoàng Thành Trần – Lê nên yêu cầu tìm hỏi cán bộ khảo cổ có chút am hiểu về khu vực có thể có di tích lịch sử này. Tôi cùng với ông Đỗ Văn Ninh và một cán bộ kỹ thuật (đo vẽ khảo cổ) được thu nhận vào theo dõi công việc đào móng xây dựng công trường Lăng Bác. Chúng tôi đã thấy gì?

– Thấy được Cửa Tây – Dương Mã Thành – của cái thành đời Nguyễn cùng nhiều đoạn thành, nền là lớp đá ong rất dày, trên xây gạch Nguyễn lẫn lộn gạch vồ Lê

– Thấy nhiều di vật (gạch, ngói lưu li xanh vàng, đồ gốm sứ Lý – Trần – Lê – Nguyễn…).

– Thấy những đống xương: người, thú (trâu bò, lợn, gà…), có xương bả vai trâu có một đinh ba sắt xuyên qua (lễ hiến tế).

– Thấy một vài cái giếng xây bằng gạch ”Giang Tây quân” (chữ in trên gạch, niên đại thuộc Đường thế kỷ VII – IX), có gạch in chữ ”Lý gia đệ tam đế Long Thụy thái bình tứ niên tạo” (làm năm Long Thụy thái bình thứ tư, đời vua thứ 3 nhà Lý – 1057) v.v… (thời ấy phải nghiêm ngặt tuân thủ định chế của công trường: Không được mang vào và mang ra bất cứ hiện vật gì, không được hỏi, được nói bất cứ cái gì mình biết và không biết, không được đi ra khỏi nơi quy định…) Những hiện vật đó nay ở đâu? Chỉ có Ban chỉ huy công trường biết (bảo quản ở đâu đó).

1885

Bản đồ Hà nội

Đối chiếu bản đồ cũ với ảnh Google có thể thấy bốn con đường chạy quanh Hoàng thành xưa hiện giờ là: Phan Đình Phùng (phía Bắc), Trần Phú (phía Nam), Lý Nam Đế (phía Đông) và Hùng Vương (phía Tây)

untitled1untitled2

Cửa thành Hà nội nhìn từ phía đưòng Sơn Tây ( Ảnh của Hocquard chụp khoảng 1885 -1886)

CitadelleVueGenerale

Vẫn theo GS Trẫn Quốc Vượng: Về phía tây Hoàng Thành Lê, thì còn chứng cứ: Khán Sơn. Toàn thư chép là ở góc tây bắc Hoàng Thành, nơi vua Lê Thánh Tông và các đại quan ngự xem (khán) quân sĩ tập trận. Thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp sai san phẳng Khán Sơn làm nền, trên đó xây dựng trường trung học mang tên viên toàn quyền Albert Sarraut, nay được cải tạo, sửa thành trụ sở TƯ Đảng CSVN.

Toàn cảnh khu vực phía Tây Hoàng thành khi người Pháp bắt đầu công cuộc xây dựng Hà nội đầu thế kỉ XX: trưòng Albert Saraut, phủ toàn quyền và bùng binh Puginier (xem thêm hình ảnh tại đây)

Vị trí của Cửa Tây đâu đó trên trục đường Bắc Sơn này

DSC_8755

Photo by ttnhan
Location: Bắc Sơn street

Thăng Long Thành Hoài cổ

Khi triều Nguyễn cho xóa bỏ tòa thành cũ, thi hào Nguyễn Du than thở:

Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung.

Tạm dịch:

Cung điện ngàn năm thành đường cái
Một tòa thành mới mất cung xưa.

Bà Huyện Thanh Quan cũng có bài Thăng Long thành hoài cổ:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Ðến nay thấm thoát mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm bóng cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Thành Hà Nội từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX:

Năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị đem đại quân 29 vạn người sang chiếm Thăng Long không tốn một hòn tên mũi đạn. Dựa thế quân Thanh Lê Chiêu Thống điên cuồng trả thù họ Trịnh. Phủ chúa bị Lê Chiêu Thống đốt trụi cháy ròng rã một tuần mới hết. Tất cả những gì liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng Long bị phá sạch. Kinh thành lại một lần nữa ra tro. Đầu năm 1789, Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, triều Hậu Lê kết thúc, Quang Trung định đô ở Phú Xuân. Thăng Long chỉ còn là Bắc thành. Năm 1802 sau khi tiêu diệt xong Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế. Kinh đô vẫn được đặt ở Phú Xuân (tức Huế ngày nay). Kinh thành Thăng Long cũng như toàn miền Bắc phải chịu một sự chuyển đổi lớn: Từ kinh thành hơn 800 năm trở thành trấn thành rồi tỉnh thành. Sự chuyển đổi này có nhiều lý do: thứ nhất nhà Nguyễn không được lòng nhân sĩ Bắc hà; thứ hai Phú Xuân từng là vùng chịu ảnh hưởng của thế lực nhà Nguyễn trong mấy trăm năm nên đã đi vào nề nếp. Kinh thành đã chuyền làm trấn thành nên tên Thăng Long cũng bị đổi từ nghĩa rồng bay sang thành thịnh vượng, ý rằng nhà vua không còn ở đấy. Đồng thời những gì còn sót lại của Hoàng Thành sau những trận đại hủy diệt cuối thế kỉ 18 cũng lần lượt bị các đời vua nhà Nguyễn chuyển nốt vào Phú Xuân phục vụ cho công cuộc xây dưng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi Ngự giá Bắc thành.

Thành Huế

Mô hình thành Phú Xuân

Năm 1805, vua Gia Long lệnh phá bỏ thành cũ, xây lại thành mới nhỏ hẹp hơn rất nhiều so với Hoàng thành các thời trước vì cho rằng đây chỉ còn là Trấn Bắc thành, không đựợc rộng hơn thành Phú Xuân. Thành mới xây phỏng theo kiểu thành Vauban của Pháp.

Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số xung quanh là hào nước sâu. Tường thành xây bằng gạch hộp, chân thành xây bằng đá xanh. Bốn bức tường thành tương ứng với bốn con phố hiện nay là: phố Phan Đình Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam, đường Hùng Vương ở phía Tây. Ở trong, giữa hai phố Hoàng Diệu và Nguyễn Trị Phương là khu vực Hành cung.

Thành mở ra 5 cửa: cửa Đông (tương ứng với phố cửa Đông bây giờ), cửa Tây (tương ứng với phố Bắc Sơn hiện nay), cửa Bắc (nay vẫn còn), cửa Tây Nam (tương ứng với chợ Cửa Nam hiện nay), cửa Đông Nam (tương ứng với đoạn giao phố Điện Biên Phủ và Nguyễn Thái Học bây giờ).

Hoàng thành và 36 phố phuòng đầu TK19

Năm cửa thành thể hiện rõ trên bản đồ Hà nội đầu thế kỉ 19

click to comment

Ảnh Hà nội đầu thế kỉ 19 dựng bằng kĩ thuạt 3D

Phía ngoài mỗi cửa có Dương Mã thành là loại công sự bảo vệ gồm hai bức thành vuông góc nhô ra phía ngoài xây trên bờ hào. Mỗi Dương Mã thành có một cửa bên, gọi là Nhân môn. Từ ngoài vào, phải qua Nhân môn rồi mới đến cổng thành.

Trong thành có nhà Kính Thiên. Phía đông thành là nhiệm sở của Tổng trấn Bắc thành. Phía tây là kho thóc, kho tiền, và dinh bố chính là viên quan phụ trách những kho ấy.

Năm 1812 dựng Cột cờ Hà Nội ở phía nam thành. Trước cột cờ là Hồ Voi, nơi đặt dinh tổng trấn và các Tào thay mặt các Bộ. Có kho, võ miếu, đàn Xã tắc để tế trời đất, nền Tịch điền để làm lễ động thổ hàng năm. Có nhà ngục và nơi pháp trường gọi là Trường hình. Mỗi cửa thành đều có lính đóng, ngoài cửa Nam có Đình Ngang Cấm Chỉ.

Kì đài và Đoan Môn

Kì Đài và Đoan Môn – phần phía Nam của Hành Cung – nhìn từ phía đường Lý Nam Đế ngày nay

Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Năm 1835, vì cho rằng thành Hà Nội cao hơn kinh thành Huế, Minh Mạng cho xén bớt 1 thước 8 tấc, thành Hà Nội chỉ còn cao chừng 5m.

Năm 1848, vua Tự Đức cho tháo dỡ hết những cung điện còn lại ở Hà Nội chuyển vào Huế.Cái tên này tồn tại cho đến năm 1888 khi nhà Nguyễn chính thức nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp.

một góc thành Hà nội

Một góc thành Hà nội – ảnh của Hocquard chụp khoảng 1884 -1885

Citadelle Blockhause Francais au Nord

Đồn lính Pháp dựng phía Bắc thành

Citadelle blockhause Francaise pres du Grand Lac

Người Pháp đổi Hà Nội thành thành phố. Đến khi chiếm xong toàn Đông Dương họ lại chọn đây là thủ đô của Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp. Thành Hà Nội bị phá đi hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính cho người Pháp. Kì Đài, Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn còn lại đến nay chỉ vì chúng được người Pháp dùng cho mục đích quân sự.

Doan Mon

Một bức ảnh hiếm chụp phía trước Đoan Môn thời kì người Pháp phá thành Hà nội.

Hanoi-1885

Hà nội 1885

Và từ đây bắt đầu một công cuộc xây dựng và phát triển Hà nội với tham vọng dựng “một Paris thu nhỏ trong lòng Đông Dương” để thoả nỗi nhớ của người xa xứ. Công cuộc này kéo dài tới đầu những năm 40 của thế kỉ XX.

Copy of Bonus2

Những dòng bút tích trên tấm bưu ảnh mô tả một thành phố châu Âu trong lòng Hà nội

Panorama 2