Nhà Lý – những trang lịch sử huy hoàng

Tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), Điện Tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn được quần thần tôn lên làm vua, sáng lập vương triều Lý. Nhà Lý trị vì thiên hạ được 216 năm, trải 9 đời vua (từ Lý Công Uẩn đến Lý Chiêu Hoàng). Thời gian ở ngôi báu của các Đức vua tuy dài ngắn khác nhau, song các Đức vua nhà Lý đều dốc lòng vì vương triều, vì nước, vì dân và đều để lại dấu ấn của vương triều mình trong quá trình đấu tranh giữ nước, xây dựng  đất nước nói chung Thăng Long nói riêng…Vậy nên các sử gia của nước Việt đều đồng lòng đánh giá cao vương triều Lý: là một vương triều đã đóng góp nhiều thành tựu cho lịch sử nước nhà ở một số  lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, kiến trúc…Những thành tựu đó của vương triều Lý –  những trang vàng mang dấu ấn của nhà Lý sẽ còn mãi với đất nước, với Thăng Long – Hà Nội.

Quyết định dời đô

Tượng đài vua Lý Thái Tổ (ảnh Vũ Hưng)
Mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ có một quyết định lịch sử, chọn thành Đại La đô cũ do Cao Biền xây dựng nằm ven sông Tô Lịch, làm đô mới cho vương triều Lý. Đó là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình của vận mệnh dân tộc. Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) nằm trong miền núi non hiểm trở, mang tính phòng thủ cao đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình trong buổi đầu dựng nước. Thăng Long là mảnh đất nằm giữa vùng đồng bằng trù phú, hội đủ những điều kiện cần thiết để xây dựng trung tâm quyền lực, lãnh đạo đất nước phát triển trong thời đại mới. Kinh đô Thăng Long – hình tượng của Rồng bay – biểu tượng cho khí thế vươn lên mạnh mẽ của một vương triều đồng thời thể hiện khát vọng vươn tới những chân trời mới của dân tộc. Kinh đô mới, khí thế mới, sức sống mới…sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước, xây dựng một triều đại mới cực thịnh, tạo bản lề vững chắc cho các triều đại sau này tiếp tục điều hành đất nước, xây dựng quốc gia phồn thịnh. Sự phát triển không ngừng của Thăng Long – Hà Nội; sự kiên cường bất khuất của Thăng Long – Hà Nội; sự hào hoa thanh lịch của Thăng Long – Hà Nôi; cùng niềm tin yêu của đồng bào trong và ngoài nước suốt dặm dài lịch sử 1000 năm qua đã minh chứng sự đúng đắn và sáng suốt cho ý tưởng thiên đô và quyết định thiên đô của Đức vua Lý Công Uẩn.

Đặt tên nước Đại Việt

Thế kỷ thứ VII trước Công Nguyên, nước Văn Lang của các Vua Hùng ra đời, đánh dấu buổi bình minh của lịch sử dân tộc. Năm 258 trước Công nguyên, Thục Phán thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt đã lập nước Âu Lạc sau khi thôn tính đất đai của Vua Hùng thứ 18, lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh). Bắc Thuộc lầm than kể từ khi Triệu Đà xâm lược nước Âu Lạc (năm 179 TrCN hoặc 207 TrCN). Trong suốt đêm dài đau thương đó, hai lần dân tộc ta giành được độc lập. Đó là thời kỳ Hai Bà Trưng đánh đuổi quân xâm lược phương bắc giành quyền độc lập (năm 40 – 43 sau Công Nguyên); và (năm 544 – 602) Lý Bí đánh bại quân xâm lược nhà Lương, xưng đế (sử gọi là Lý Nam Đế), lập nước Vạn Xuân, dựng “Tô Lịch giang thành” bên dòng sông Tô thơ mộng”. Năm 938 – Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc 1000 năm Bắc thuộc.

Sau khi Ngô Quyền mất, đất nước rơi vào thảm loạn 12 sứ quân đó là vào năm 966. Đinh Bộ Lĩnh quê ở Gia Viễn (Ninh Bình) đã tập hợp nghĩa quân lần lượt dẹp được “loạn 12 sứ quân”, thu non sông về một mối. Năm 968 thủ lĩnh “cờ lau” – Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, xưng “Đại Thắng Minh Hoàng Đế”, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, sử gọi là Đinh Tiên Hoàng.

Vị vua thứ ba của Vương triều Lý là Lý Thánh Tông, sinh năm 1023 tại Thăng Long. Tên thật là Lý Nhật Tôn, lãnh đạo đất nước từ 1054 -1072. Đức vua nổi tiếng là một bậc minh quân, có lòng thương dân như con. Trong 18 năm trị vì, nhà vua đã làm được nhiều việc lớn, để lại dấu ấn trong lịch sử. Như, cho xây Văn Miếu; xây tháp Báo Thiên; “phá Tống bình Chiêm”, mở mang cương thổ. Nhưng, lịch sử còn ghi nhận đức vua chính là người đã đổi quốc hiệu Đại Cồ Việt thành Đại Việt (năm 1054), mở sang trang sử mới của đất nước. Tuy bị gián đoạn (thời nhà Hồ và thời thuộc Minh), song quốc hiệu Đại Việt đã duy trì được khoảng 743 năm trải các triều Lý, Trần, Lê, Mạc. Theo dòng chảy của lịch sử dân tộc thì, tính từ thời các vua Hùng đến nhà Lý, đây là lần thứ năm quốc gia đổi quốc hiệu mới (Văn Lang, Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt). Từ buổi đó cái tên Đại Việt đã lưu vào sử sách “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục bắc nam cũng khác”.

Ban bố Hình thư – Bộ luật đầu tiên của nước ta

Sự kiện này được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư: “ngày 1 tháng10 năm 1042, ban Hình thư. Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ pháp luật câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng. Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh Đạo (làm sáng tỏ đạo)“. Theo Lịch triều hiến chương loại chí thì, Hình thư gồm có ba quyển, đã bị thất truyền. Tuy nhiên qua sử sách để lại cho ta thấy đây là bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử dân tộc, là mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam. Hình thư cho thấy bộ máy chính quyền trung ương tập quyền nhà Lý đã có đủ các thiết chế để quản lý, điều hành đất nước. Hình thư ra đời vào thời vua Lý Thái Tông. Lý Thái Tông là con trưởng của Thái Tổ Lý Công Uẩn còn có tên là Lý Phật Mã, sinh năm 1000, trị vì đất nước từ năm 1028 đến năm 1054.

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” – Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên!

Lý Nhân Tông là vị vua thứ tư của Nhà Lý, là con của vua Lý Thánh Tông và nguyên phi Ỷ Lan. Nhà Vua sinh năm 1066 và mất năm 1127. Nhà vua lên 6 tuổi thì vua cha (Lý Thánh Tông) mất. Nhà Tống coi việc vua nối ngôi còn thơ ấu như một cơ hội tốt, bèn chuẩn bị quân lương, tập kết lực lượng ở Ung Châu chuẩn bị sang đánh Đại Việt. Lý Thường Kiệt vị chủ tướng nổi tiếng trong việc dùng binh khi đó đã chủ động mang quân sang đất Tống, bao vây thành Ung Châu, tiêu hao sinh lực địch. Quân Lý đã hạ thành Ung Châu (năm 1076), đập tan âm mưu của vua quan nhà Tống thôn tính Đại Việt. Không từ bỏ dã tâm đánh chiếm Đại Việt, nhà Tống lại cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang “hỏi tội”. Một lần nữa, dưới sự chỉ huy của Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt, quân dân Đại Việt lập phòng tuyến trên sông Như Nguyệt, đánh bại quân nhà Tống. Bài thơ thần – “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” đầu tiên của dân tộc Việt đã vang lên trên sóng nước Như Nguyệt, khích động tinh thần quân sỹ, dấy lên niềm tự hào dân tộc và đó chính là vũ khí chiến thắng kẻ thù: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” – “Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận ở sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”…Hùng khí của bài thơ Thần đã xuyên suốt không gian, vượt qua thời gian vọng mãi đến ngàn năm.

Lần đầu tiên vẽ bản đồ nước Việt

Lý Anh Tông là vị vua thứ sáu của Nhà Lý, trị vì Đại Việt từ năm 1138 – 1175. Trong hai năm:1171 -1172, nhà vua xa giá đi tới nhiều vùng núi non hiểm trở của đất nước, tìm hiểu đời sống sinh hoạt của người dân. Sai ngườilàm tập bản đồ nước Đại Việt, và soạn sách “Nam Bắc phiên giới đồ”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một vị vua nhà Lý đã quan tâm đến việc vẽ bản đồ đất nước, vẽ lại hình thế núi sông, phân định rạch ròi biên giới Đại Việt với các nước lân bang. Tiếc rằng tập bản đồ đó đã thất lạc. Việc làm có ý nghĩa to lớn ấy của vua Lý Anh Tông đã đặt nền móng cho ý thức giáo dục, xây dựng, và bảo vệ biên cương tổ quốc cho các thế hệ sau.

Chính quyền thân dân, vì dân, thương dân

Khi đang tại vị, Lý Thái Tổ – vị vua đầu triều nhà Lý đã cho xây cung Long Đức ở phía đông thành Thăng Long, giữa khu vực dân cư sinh sống và buôn bán để Thái tử Lý Phật Mã ở, tạo cho Thái tử có điều kiện tìm hiểu đời sống dân sinh, với mong muốn người kế nghiệp tương lai sẽ gần dân, hiểu dân và sau này có những chính sách thân dân, vì dân.

Năm 1029, vua Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) cho sửa sang điện Càn Nguyên và đổi tên là điện Thiên An. Hai bên tả hữu đặt hai lầu chuông đối xứng nhau, tạo điều kiện cho dân ai có việc kiện tụng, oan uổng thì đến đánh chuông, nhà vua sẽ đích thân xem xét, xử lý. Năm 1033, nhà vua lại cho đúc quả chuông nặng một vạn cân (khoảng 6 tấn), treo ở lầu chuông, để tiếng chuông vang thấu tai vua. Việc làm đó là một minh chứng cho chính sách thân dân của vị vua thứ hai của Nhà Lý.

Vua Thái Tông ở ngôi cao nhưng luôn gắn bó với lao động; chia sẻ những khó khăn với người lao động nhất là với những người nông dân. Tháng 2 năm 1038, Đức vua thân hành ra cửa Bố Hải cày ruộng gọi là tịch điền. Ngài làm lễ tế Thần nông, rồi tự mình cầm cày xuống ruộng. Thấy vậy các quan can rằng: “Đó là việc của nông phu, bệ hạ việc gì phải làm thế?”. Đức vua trả lời: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo…“. Nói rồi, vua đẩy cày ba lần mới thôi.

Còn Lý Thánh Tông (1054 – 1072) nổi tiếng là một minh quân. Ngài có lòng thương dân như con. Sử gia còn chép: “Nhân một năm trời rét đậm, Thánh Tông bảo các quan hầu cận rằng: Trẫm ở trong cung ngự sưởi than thú, mặc áo hồ cừu mà còn rét thế này. Huống chi những tù phạm giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật thương tâm lắm. Nói rồi vua truyền cho lấy chăn chiếu cho tù nằm, và mỗi ngày cho hai bữa ăn“.

Xây dựng trường đại học đầu tiên của nước ta

Năm 1070, vua Lý Thánh Tông chọn khu đất ở phía Nam hoàng thành Thăng Long để xây Văn Miếu. Ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên nho, Văn Miếu còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia. Học trò đầu tiên là Thái tử Lý Càn Đức, là Hoàng tử con vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi theo học. Học trò đầu tiên đó sau này nối ngôi, đó chính là Đức vua Lý Nhân Tông. Năm Ất Mão (1075), Nhà Lý mở khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam để chọn người tài. Khoa thi năm ấy thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Tới năm 1076, vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) đã quyết định xây nhà Quốc Tử giám kề sau Văn Miếu, để làm nơi cho các hoàng tử và con các vị đại thần đến học. Việc mở trường dạy học, cho dù ý tưởng ban đầu chỉ là để con cái hoàng gia có nơi “nấu sử sôi kinh” cũng đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp giáo dục của Nhà Lý, của đất nước. Sau này các triều vua Trần, Lê…đã tiếp tục phát triển Văn Miếu – Quốc Tử Giám thành trường đại học đầu tiên, là trung tâm giáo dục của cả nước.

Trên lĩnh vực xây dựng – kiến trúc, nhà Lý cũng để lại cho hậu thế những tuyệt tác như Chùa Diên Hựu được xây năm 1049, (còn gọi là Chùa Một cột); tháp Báo Thiên – một trong An Nam tứ đại khí – dựng năm 1057, cao 10 trượng với 12 tầng, tầng trên bằng đồng, nằm ở phía đông Hồ Gươm…Và hơn tất cả là khu Di tích Hoàng thành Thăng Long vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới./.

Mỹ Linh (sưu tầm và biên soạn)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: