Hệ thống giáo dục hiện đại trên xứ sở hoa anh đào

Cũng như nhiều nước phát triển trên thế giới, Nhật bản bước vào thế kỷ 21 với những cơ hội phát triển mới của một cường quốc kinh tế hàng đầu đồng thời cũng đối mặt với nhiều thách thức mới trong quá trình toàn cầu hóa. Để từng bước nâng cao vị thế của Nhật bản không chỉ trong kinh tế mà trong các lĩnh vực khác như khoa học-công nghệ, văn hóa, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, Nhật bản đã rất chú trọng cải cách giáo dục với nhiều quyết sách lớn.

Những kinh nghiệm và thành tựu của Nhật bản trong quá trình cải cách giáo dục nói chung và phát triển hệ thống giáo dục nói riêng với đặc điểm của một nước Châu á chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của các luồng tư tưởng Phương Đông (Nho giáo, Phật giáo, Thần đạo..) trong đời sống văn hóa- xã hội và tâm linh..của các tầng lớp nhân dân là rất đáng được chúng ta quan tâm nghiên cứu và học tập.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, quá trình phát triển giáo dục Nhật bản gắn liền với quá trình phát triển của chế độ chính trị, nền kinh tế và đời sống văn hóa-xã hội. Từ một xã hội phong kiến tập quyền khép kín, kinh tế tiểu nông, công nghệ lạc hậu, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn… Nhật bản đã mở cửa ra thế giới bên ngoài với những quyết sách cải cách mạnh mẽ của Minh trị Thiên hoàng (1872-1912) trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Với tư tưởng ‘ Tinh thần Nhật bản- Công nghệ phương Tây”, tiếp thu các giá trị văn minh của nhân loại, đất nước Nhật bản đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, với chính sách ‘Không để một trẻ em nào trong gia đình và không để một gia đình nào trong cộng đồng không được giáo dục ‘ ngay từ năm 1880 đã có khoảng 25.000 trường tiểu học được thành lập ở khắp mọi vùng của đất nước (hiện nay là khoảng 23.000 trường). Hệ thống các trường/lớp tư thục nhỏ bé ở các làng/xã ( terakoya ) được thay thế bằng hệ thống các trường tiểu học theo mô hình châu âu. Cùng với việc thành lập Bộ Giáo dục (1871) nhà nước Nhật bản đã sớm có chính sách phát triển hệ thống giáo dục tiểu học bắt buộc và bình đẳng đối với tất cả trẻ em bắt đầu từ 6 tuổi, không phân biệt nam-nữ, tôn giáo, thành phần xã hội…Giáo dục hướng đến sự bảo đảm phát triển hài hòa của trẻ em về mọi mặt từ trái tim, trí tuệ, tình cảm, tinh thần, thái độ, hệ thống giá trị, nhân văn.v.v.. và trở thành triết lý giáo dục cơ bản( kokoro) của nước Nhật

Chính sách giáo dục bắt buộc cũng được thực thi và điều chỉnh theo từ giai đoạn thích hợp. Số năm học bắt buộc được nâng dần từ 3-4 năm (1886) lên 6 năm vào năm 1908. Tỷ lệ nhập học bậc tiểu học đã đạt 99% vào năm 1899. Giáo dục bắt buộc và miễn phí 9 năm ( hết trung học cơ sở) được thực hiện từ 1947 với việc ban hành Luật cơ bản về Giáo dục và Luật giáo dục nhà trường. Chính nhờ chính sách này mà ngay từ đầu thế kỷ 20 nước Nhật đã sớm thực hiện thành công phổ cập tiểu học bắt buộc cho trẻ em trong độ tuổi- một thành tựu giáo dục cơ bản mà ở thời đó chưa nhiều nước thực hiện được. Cùng với chính sách phát triển giáo dục cơ bản, cũng ngay từ thời kỳ đó, Nhật bản đã có chính sách phát triển hệ thống các trường sư phạm, các trường chuyên nghiệp và đặc biệt là các trường đại học hoàng gia (Tokyo; Kyoto..) theo mô hình Châu âu (mô hình Đức)–mô hình giáo dục đại học tiên tiến thời bấy giờ mà ngay nay trở thành những trường đại học lâu đời và nổi tiếng ở Nhật bản và thế giới.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai (8/1945), nền giáo dục Nhật bản thực hiện cải cách giáo dục lần thứ 2 theo mô hình Mỹ với hệ thống giáo dục 6-3-3-4. Chính sách giáo dục bắt buộc, miễn phí và bình đẳng được tiếp tục thực hiện ở giáo dục cơ bản 9 năm ( tiểu học và trung học cơ sở). Chính sách này tạo cơ sở cho Nhật bản sớm thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào những năm 50 và phổ cập trung học phổ thông vào những năm 70 của thế kỷ 20. Với chính sách tất cả giáo viên các cấp phải được đào tạo ở các trường cao đẳng/đại học và phát triển hệ thống đào tạo sư phạm ‘mở ‘, không khép kín việc đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm, đội ngũ giáo viên Nhật bản dần dần được phát triển ở trình độ cao, đa dạng với nhiều loại hình giáo viên ở các cấp có trình độ cao đẳng/đại học.
http://vnsharing.net/forum/showthread.php?t=63230

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: