Sự chuyển hướng lịch sử của Nhật Bản

“Nhật Bản đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên mới trong quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi nước này trở thành một chủ thể chính trị-chiến lược quyết đoán hơn, các nhà quan sát quốc tế sẽ một lần nữa phải ngạc nhiên…” 

Trong suốt thời kỳ lịch sử hiện đại, Nhật Bản đã chứng tỏ khả năng gây nên sự ngạc nhiên lớn cho các nhà quan sát nước ngoài của mình. Không một quốc gia nào lại có chính sách đối ngoại biến động sâu rộng và mạnh mẽ đến vậy – từ chính sách biệt lập cho tới việc tích cực tiếp thu văn hóa nước ngoài, từ sự tôn sùng đối với Nhật hoàng cho đến chế độ dân chủ, từ chủ nghĩa quân phiệt cho đến chủ nghĩa hòa bình. Trân Châu Cảng là biểu hiện ấn tượng nhất và đáng nhớ nhất trong số rất nhiều những ví dụ về cách hành xử gây bất ngờ của Nhật Bản.

Do thường xuyên phải lúng túng trước những thay đổi cơ bản về đường lối của Nhật, người Mỹ thường nghĩ rằng bất ổn vốn là thuộc tính của quốc gia này. Trong những năm 1970, khi sức mạnh về kinh tế của Nhật được tăng cường, một số nhà quan sát nước ngoài đã dự tính rằng Nhật Bản có thể một lần nữa sẽ trải qua những đổi thay đột ngột. Với lòng tự hào và chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ, người Nhật có thể sẽ thi hành một chính sách ngoại giao quyết đoán hơn – từ bỏ hiến pháp hòa bình và tái vũ trang, thậm chí có thể là sẽ lựa chọn theo đuổi vũ khí hạt nhân. Nhưng họ đã nhầm.

Trong suốt nửa sau của thế kỷ XX, Nhật Bản đã tránh dính líu tới các vấn đề chính trị chiến lược quốc tế và lảng tránh những vấn đề gây tranh cãi trong quan hệ quốc tế. Trong suốt thời kỳ đó, Nhật Bản chỉ toàn tâm toàn ý theo đuổi những lợi ích thương mại hạn hẹp của mình. Cách hành xử của Nhật thường tỏ ra giống như của một công ty thương mại quốc tế hơn là của một quốc gia-dân tộc.

Thành công của Nhật Bản trong lĩnh vực thương mại thật đáng ngạc nhiên. Đứng bên ngoài Chiến tranh Lạnh, từ một đống đổ nát thời chiến, Nhật Bản đã phục hồi và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Thực vậy, vào năm 1992, nhiều nhà quan sát lạc quan đã kết luận rằng Chiến tranh Lạnh đã kết thúc và Nhật Bản là người chiến thắng. Có vẻ như việc nắm vững cách tổ chức công nghiệp và tập trung vào khoa học-công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với sự tăng trưởng kinh tế của Nhật và cũng đồng thời chuẩn bị cho vai trò lãnh đạo của quốc gia này trên thế giới.

Nhưng rồi, vào suốt những năm 90, không giống như suy nghĩ của hầu hết mọi người, Nhật Bản lại chìm vào một thời kỳ trì trệ kinh tế và bế tắc chính trị kéo dài, cuối cùng khiến Nhật nhanh chóng mất đi ảnh hưởng và uy tín. Bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự suy thoái và thiểu phát, thị trường chứng khoán Nhật Bản đã tụt dốc, các khoản nợ xấu tăng vọt, tỉ lệ thất nghiệp tăng lên những mức cao hơn và các vụ bê bối tham nhũng tăng theo cấp số nhân. Trong “thập kỷ bị đánh mất” này, khi mà hệ thống chính trị sụp đổ thì đã có tới 8 vị thủ tướng lần lượt nắm quyền và rồi lại ra đi.

Trước tình hình này, các nhà quan sát rất lúng túng. Họ chỉ biết nhìn vào những vấn đề dài hạn có vẻ gai góc của Nhật, ví dụ như xã hội lão hoá, suy giảm dân số, nợ công chồng chất… để rồi đi đến kết luận rằng Nhật Bản là một đất nước mất nhuệ khí đang suy thoái.

Trong hệ thống quốc tế, người ta hầu như đã lãng quên sự lãnh đạo của Nhật Bản đối với châu Á trong quá khứ, nhường chỗ cho sự chú ý mới về một Trung Quốc đang vươn lên. Nhưng cũng thật là sai lầm lớn nếu chỉ dựa vào buổi giao thời này mà tiên đoán tương lai của Nhật.

Bất chấp sự bất ổn đang hiện hữu trong đời sống đất nước, và có lẽ một phần chính nhờ có những bất ổn đó, những động lực cho sự chuyển hướng lại được khởi động. Đằng sau sự hỗn loạn và thiếu mục đích, quá trình cải cách đang ngày càng nhận được thêm sự ủng hộ. Vào năm 2001, Junichiro Koizumi, một nhà cải cách đầy kinh nghiệm nhưng cũng đầy hoa mỹ (với một mái tóc kiểu Beethoven rất riêng, hâm mộ nhạc kịch, Elvis và nhạc heavy metal), đã đắc cử và giữ chức Thủ tướng trong 5 năm. Koizumi đã thiết lập một mối quan hệ gần gũi với Tổng thống Bush và đã có những biện pháp chưa từng có để củng cố quan hệ đồng minh với Mỹ. Đồng thời, ông cũng đi ngược lại với những lợi ích vốn từ lâu gắn với đảng bảo thủ của mình khi hứa sẽ làm mọi cách để theo đuổi một chương trình giảm bớt các quy định và thủ tục, dân chủ hóa và cải cách hiến pháp.

Khi mà Koizumi quyết định sẽ ra đi vào tháng 9/2006, kinh tế Nhật Bản đã qua cơn bĩ cực để tới hồi thái lai. Nền chính trị nước này cũng đang đi theo một hướng mới. Nếu nhìn lại quãng 15 năm sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ta sẽ thấy đó là giai đoạn chuyển giao, giai đoạn mà Nhật Bản đã có những thích ứng rộng rãi trước một môi trường quốc tế đã thay đổi vể căn bản.

Nhật Bản ngày nay đang đứng trước những sự thay đổi lớn lao về chiến lược đối ngoại theo đúng kiểu đặc trưng của lịch sử Nhật Bản hiện đại – thích nghi một cách thực dụng và cơ hội trước những thay đổi căn bản của trật tự thế giới. Sau Chiến tranh Lạnh, không chỉ chính sách đối ngoại mà còn cả những thể chế trong nước hỗ trợ việc thực hiện chính sách đó cũng đang dao động.

Phong cách chiến lược của Nhật

Học giả người Pháp Raymond Aron đã nói rằng các quốc gia theo đuổi “những phong cách tồn tại và cư xử” khác nhau và chúng thường tồn tại cùng thời gian. Những hình mẫu trong cư xử này tạo nên hệ thống đặc trưng của một quốc gia về thái độ, tập quán và nguyên tắc khi quốc gia đó gặp phải những vấn đề, trong đó có những thách thức từ bên ngoài. Trong một thế kỷ rưỡi, tầng lớp lãnh đạo của Nhật là một giới tinh hoa có xu hướng bảo thủ. Tầng lớp này đã thể hiện một phong cách đặc trưng trong chính sách đối ngoại. Cốt lõi của phong cách này là thiên hướng hiện thực chủ nghĩa để thích nghi với những đổi thay trong cấu trúc của hệ thống quốc tế.

Khuynh hướng này bắt nguồn từ những nguyên nhân văn hoá, lịch sử cũng như chiến lược. Phong cách chiến lược của lãnh đạo Nhật thời hiện đại là di sản của những ảnh hưởng từ thời cận đại và kinh nghiệm lâu dài của thời Minh Trị Duy Tân từ năm 1868 (thực chất đó là một cuộc cách mạng hiện đại của Nhật). Quá trình này được thúc đẩy phần nhiều từ nhu cầu cạnh tranh trong hệ thống quốc tế và quyết tâm (của lãnh đạo) điều chỉnh các chính sách và thể chế của đất nước để có thể thành công trong hệ thống đó. Thực tế là toàn bộ cơ sở hạ tầng của Nhật đã được tái cơ cấu để đối phó với những thách thức của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Trong khi các nước châu Á khác chống lại trật tự quốc tế mới, chỉ mình Nhật là phản ứng bằng cách bắt chước toàn diện những thể chế của các siêu cường. Chấp nhận luật chơi, chỉ sau một thế hệ, Nhật đã trở thành một chủ thể tích cực và chủ động trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa.

Do đó, nhà nước Nhật hiện đại bắt nguồn từ quá trình ứng phó với những thách thức của môi trường quốc tế. Nó định hình từ phản ứng mang tính cơ hội của Nhật trước trật tự bên ngoài và không phát triển một cách tự phát tách biệt với hoàn cảnh trong nước. Và nếu như trật tự đó thay đổi, Nhật Bản sẽ điều chỉnh chính sách và tổ chức bên trong tuỳ thuộc vào trật tự mới.

Kể từ thời Minh Trị, giữa phương thức hoạt động của hệ thống quốc tế và đặc tính chính trị của các thiết chế nội bộ của Nhật đã có mối quan hệ qua lại hết sức chặt chẽ. Xu hướng này càng trở nên rõ nét do sự phụ thuộc vào thương mại và vào an ninh đường biển mà quá trình công nghiệp hoá đã tạo nên đối với đất nước nghèo tài nguyên này. Trong suốt quá trình lịch sử hiện đại của Nhật, mô hình Minh Trị đã có vị trí thống trị: những nhu cầu đối ngoại sẽ định hình đường lối của Nhật. Nhật đã tự tái tổ chức các thể chế đối nội để thành công về đối ngoại. Thực vậy, chẳng có mấy nước điều chỉnh trật tự đối nội sâu rộng đến vậy để đáp ứng những nhu cầu của trật tự quốc tế mới.

Kể từ khi tham gia vào thế giới hiện đại, Nhật đã trải qua 5 thời kỳ biến đổi cơ bản trong trật tự Đông Á. Đầu tiên là sự sụp đổ của hệ thống Trung Hoa và sự ra đời của trật tự đế quốc phương Tây vào giữa thế kỷ 19. Thứ hai là sự kết thúc của hệ thống đế quốc sau Đại chiến I và sự khởi đầu của một hệ thống thiên Mỹ được định hình qua những hiệp ước ký kết ở Hội nghị Washington . Thứ ba là sự tan rã của hệ thống do Mỹ đứng đầu và tình trạng vô chính phủ trong những năm 1930 đã thúc đẩy Nhật tạo lập hệ thống Đông Á của riêng mình. Thứ tư là sự sụp đổ của hệ thống mới của Nhật và sự thiết lập một trật tự tự do mới do Mỹ thống trị sau năm 1945 cùng với sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh. Và thứ năm là sự kết thúc trật tự hai cực thời Chiến tranh Lạnh cùng sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991.

Cả bốn lần thay đổi trước đều dẫn đến những biến chuyển cơ bản trong chính sách đối ngoại của Nhật cũng như trong những thể chế đối nội. Lần chuyển đổi thứ năm trong trật tự bên ngoài bắt đầu với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đã khởi động cho những đổi thay to lớn trong hệ thống quốc tế, dù rằng điều đó chưa định hình một trật tự mới ở Đông Á và trên thế giới một cách chắc chắn. Mặc dù vậy, Nhật cũng đã ứng phó bằng cách dứt khoát từ bỏ những chính sách của thời Chiến tranh Lạnh và bắt đầu quá trình tái cơ cấu lại những thể chế trong nước, trong đó có cả việc xem xét lại Hiến pháp.

Phương thức ôn hoà

Các nhà quan sát nước ngoài thường coi sự thụ động của Nhật thời hậu chiến là do kết quả của những vết thương lòng trong chiến tranh, của sự đầu hàng vô điều kiện, của lòng mong muốn hoà bình của người dân, của sự dị ứng đối với vũ khí hạt nhân và bởi những hạn chế do bị áp đặt một hiến pháp hoà bình. Rõ ràng là những nhân tố này đã thiết lập nên những ranh giới ràng buộc phạm vi hoạt động của giới lãnh đạo Nhật thời hậu chiến.

Nhưng phải mất nhiều thời gian các nhà hoạt định chính sách Mỹ mới nhận nhận thức đầy đủ được rằng xu hướng tập trung cho phát triển kinh tế và thụ động về chính trị cũng đồng thời là sản phẩm của một chính sách đối ngoại được hoạch định cẩn trọng và được thực thi một cách xuất sắc.

Trong thời gian phụ trách về chính sách đối ngoại Mỹ, Henry Kissinger đã rất coi thường khả năng tư duy chiến lược của Nhật và đã bị Mao Trạch Đông lên lớp một bài bởi thái độ coi thường đối với Nhật. Sau này, trong hồi ký của mình, ông ta đã công nhận rằng mục đích của Nhật trong giai đoạn hậu chiến là kết quả của sự thích ứng mang tính cơ hội đối với hoàn cảnh của Nhật theo nhận thức của giới lãnh đạo nước này, của sự theo đuổi lợi ích quốc gia được xác định một cách sâu sắc trong những giới hạn mà trật tự quốc tế sau chiến tranh đã áp đặt cho Nhật.


Thủ tướng Yoshida Shigeru

Yoshida Shigeru, vị thủ tướng anh minh trong giai đoạn sau chiến tranh, đã thừa hưởng phong cách chiến lược của những vị lãnh đạo thời Minh Trị và đã hiện thực hoá nó trong môi trường mới đầy thách thức. Quá trình thích nghi mang tính cơ hội của ông đối với Hệ thống Mỹ (Pax Americana) và trật tự hai cực trong Chiến tranh Lạnh đã định hình đường lối của Nhật trong 4 thập kỷ sau đó.

Yoshida tin tưởng rằng Chiến tranh Lạnh sẽ khiến Mỹ phải duy trì sự hiện diện tại Nhật và chỉ điều đó thôi cũng đã đủ để bảo đảm an ninh cho Nhật. Do đó, ông toàn tâm tập trung cho việc phục hồi kinh tế và duy trì sự ổn định chính trị. Với việc đứng ngoài các vấn đề quốc tế, ông đã hoãn vô thời hạn việc chuẩn bị cho người dân Nhật phải đứng trước những thực tế gai góc của nền chính trị quốc tế.

Theo học thuyết Yoshida, Nhật dựa vào sự bảo trợ an ninh của Mỹ, duy trì lực lượng quân đội thấp nhất có thể và tập trung xây dựng kinh tế, khoa học và công nghệ. Nhật đứng về phương Tây trong Chiến tranh Lạnh, nhưng chẳng mấy nồng nhiệt với những tư tưởng gây nên cuộc chiến tranh đó.

Họ đã dựa trên thắng lợi của chủ nghĩa tự do mà không áp dụng những nguyên tắc của chủ nghĩa đó. Họ đã cẩn trọng tránh né những nghĩa vụ đối với đồng minh, hoặc thậm chí không sử dụng thuật ngữ “đồng minh”, và sử dụng chiêu bài hiến pháp hoà bình để tự hạn chế Nhật không phải tham gia vào những vấn đề an ninh quân sự. Những hạn chế đó có 7 nội dung chính: không triển khai quân đội Nhật ra nước ngoài, không tham gia vào các khối an ninh tập thể, không phát triển khả năng triển khai sức mạnh quân sự, không trang bị hạt nhân, không xuất khẩu vũ khí hoặc các công nghệ liên quan tới quân sự, không chi quá 1% GNP dành cho quốc phòng, và không sử dụng khoảng không cho mục đích quân sự.

Để hỗ trợ cho chính sách đối ngoại trọng thương, Nhật đã phát triển một hệ thống hạ tầng các thiết chế kinh tế do các nhà kỹ trị quản lý. Với một hệ thống chính trị thích hợp, các nhà quản lý này không phải chịu sức ép bầu cử hoặc tín nhiệm trước cử tri. Sức mạnh kinh tế trở thành phương thức để Nhật bảo đảm những nhu cầu an ninh và phát huy ảnh hưởng. Chính phủ sẵn sàng chỉ trả phần lớn chi phí cho những căn cứ quân sự Mỹ ở Nhật (khoảng 5 tỷ đôla/năm). Viện trợ và đầu tư nước ngoài là những công cụ chính của chính sách đối ngoại. Các chính sách viện trợ được chuẩn bị cẩn trọng để định hướng sự phát triển của các láng giềng khu vực. Trung Quốc là nước nhận viện trợ của Nhật nhiều nhất – khoảng 25 tỷ đôla kể từ bắt đầu công cuộc hiện đại hoá kinh tế. Nhật trở thành nước cung cấp viện trợ lớn nhất thế giới và là nước cho vay nhiều nhất trong lịch sử.

Thực tế mới

Hầu hết các nghiên cứu khi phân tích những vấn đề của Nhật sau năm 1990 thường tập trung vào sự bùng nổ của nền kinh tế bong bóng và sự yếu kém trong quản lý kinh tế. Tuy nhiên, nhìn rộng hơn, chính sự thay đổi cơ bản của trật tự quốc tế, bao gồm quá trình toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa, đã làm cho cả hệ thống của Nhật bị mất phương hướng.

Chính sách đối ngoại thời kỳ Chiến tranh Lạnh và các thể chế hỗ trợ nó đã hoạt động xuất sắc trong thời kỳ xung đột hai cực, nhưng rồi cũng ngay lập tức bị “lỗi mốt” khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Nước Mỹ không còn sẵn sàng tự động bảo trợ an ninh cho Nhật và đã đòi hỏi phải có đi có lại trong liên minh này.

Do không cung cấp nhân lực cho liên minh trong cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất, Nhật đã phải hứng chịu một làn sóng chỉ trích. Khoản đóng góp quan trọng trị giá 13 tỷ đôla cho liên minh thì bị xem là “ngoại giao sổ ghi séc”. Tương tự, năm 1994, trong cuộc tranh cãi giữa Mỹ và CHDCND Triều Tiên về chương trình hạt nhân của nước này, sự miễn cưỡng của Nhật trong việc hỗ trợ quân đội Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột đã làm suy giảm lòng tin của Mỹ đối với giá trị của mối quan hệ đồng minh này.

Hai năm sau, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan nổ ra do Trung Quốc phóng tên lửa tới các vùng biển gần Đài Loan để thể hiện thái độ không hài lòng trước việc Đài Loan khẳng định đòi độc lập. Cuộc khủng hoảng đã khiến Nhật lo ngại sâu sắc về sức mạnh ngày càng gia tăng và mục đích khó lường của Trung Quốc. Việc CHDCND Triều Tiên phóng tên lửa qua không phận của Nhật vào năm 1998 và tầu ngầm của Trung Quốc tăng cường xâm nhập lãnh hải của nước này đã càng khiến người Nhật lo lắng về sự bất an của mình. Châu Á đang trở thành khu vực cạnh tranh chiến lược, chạy đua vũ trang, tranh chấp biên giới, trong khi chỉ có những nỗ lực lẻ tẻ nhằm xây dựng các cơ chế đa phương hiệu quả giải quyết tình trạng bất an này.

Thực thế mới này không thể làm ai yên lòng. Để bảo đảm an ninh, Nhật sẽ phải có những điều chỉnh cơ bản trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Họ sẽ không thể tiếp tục đứng bên lề xung đột chiến lược như trong nửa thế kỷ qua. Sự hợp tác trong khuôn khổ liên minh với Mỹ cần phải được tăng cường, nếu Nhật không muốn người Mỹ chấm dứt hỗ trợ Nhật. Sức mạnh kinh tế không còn đủ để bảo đảm an ninh của Nhật. Một sự cân bằng hơn giữa khía cạnh kinh tế và chính trị trong vai trò quốc tế của Nhật sẽ khiến Nhật phải xem xét lại lợi ích quốc gia, thay đổi những chức năng thể chế chủ yếu và những thói quen không chính thức vốn chỉ để phục vụ kinh tế, và phát triển một hạ tầng cần thiết để theo đuổi một vai trò chính trị-chiến lược chủ động hơn. Điều đó cũng khiến Nhật phải tái xác định hình ảnh và mục tiêu của đất nước, xây dựng sự đồng thuận để thống nhất cả đất nước trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia.

Con thuyền Nhật cần phải được chuyển hướng.

“Sau một thời gian dài thụ động về chính trị, một nước Nhật trẻ trung hơn giờ đây thấy rằng lòng sẵn sàng bày tỏ lập trường mạnh mẽ và rõ ràng chính là sự giải phóng…” Nhật Bản đang tiến những bước vững chắc để trở thành một cường quốc toàn diện. Đó là kết luận của Kenneth B. Pyle trong phần cuối của bài viết được giới thiệu dưới đây. Toàn bộ quan điểm trong bài là của tác giả.Xa rời chủ nghĩa hoà bình

Xa rời chiến lược thời Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản đang xây dựng một chiến lược mới để thích ứng với một trật tự đang xuất hiện trong khu vực và trên thế giới theo một cách rất từ từ, âm thầm, khó nắm bắt bởi những biện pháp khó hiểu và kỳ bí của nước này.

Đứng trước những yêu cầu của toàn cầu hoá, sự nổi lên của chủ nghĩa khủng bố trên toàn cầu, trước sức mạnh ngày càng gia tăng và hành vi ngày càng cứng rắn của các nước láng giềng, đặc biệt là sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự hung hăng của một CHDCND Triều Tiên tuyên bố mình có hạt nhân, Nhật đang liên tục tăng cường sức mạnh quân sự và trở thành một chủ thể tích cực hơn trong chính trị quốc tế.

Viện trợ nước ngoài – vốn là công cụ hàng đầu của chính sách đối ngoại – đã bị cắt giảm tới hơn 30% kể từ năm 1997. Chính phủ Nhật cũng đang xem xét lại vấn đề này dưới góc độ chiến lược. Người ta cũng đang chính sửa những hạn chế do Nhật tự áp đặt (7 nội dung chính) trong thời Chiến tranh Lạnh, báo hiệu những thay đổi hết sức sâu rộng.

Thứ nhất, chính sách không cử Lực lượng Phòng vệ Nhật (SDF) ra nước ngoài (tuyên bố khi lực lượng này thành lập năm 1954) lần đầu tiên đã bị phá vỡ vào năm 1992 khi Nhật cử một nhóm binh sĩ tới Campuchia tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình trong các vai trò hậu cần và phi quân sự. Sau đó, quân Nhật đã được cử đến Mozambique (1993-1995), Rwanda (1994), cao nguyên Golan (1995-) và Đông Timo (2001-2004). Năm 2002, giới hạn về quy mô của những hoạt động này cũng lặng lẽ bị xoá bỏ để quân Nhật có thể tham gia vào các nhiệm vụ nguy hiểm hơn, bao gồm việc tuần tra các khu vực ngừng bắn và giải giáp vũ khí. Những ký ức về chiến tranh Vùng Vịnh và nhận thức về nhu cầu cần phải tăng cường liên minh với Mỹ đã dẫn Nhật tới việc mở rộng các hoạt động của SDF.

Năm 2001, khi Mỹ bày tỏ hy vọng Nhật sẽ hỗ trợ liên minh do Liên hợp quốc uỷ nhiệm nhằm tiêu diệt chế độ Taliban ở Afghanistan, Nhật đã cung cấp hỗ trợ về hậu cần ở hậu phương và ngoài khơi chứ không tham chiến, bao gồm việc triển khai tới Ấn Độ Dương các tàu khu trục lớp Aegis và các tàu chở dầu để cung cấp nhiên liệu cho hải quân của liên minh. Sau khi Mỹ tấn công Iraq vào năm 2003, chính phủ Nhật đã cử một nhóm bộ binh tới để làm nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo – một sự hỗ trợ mang tính tượng trưng dành cho đồng minh Mỹ.

Thứ hai, trước đây, người ta thường diễn giải một cách hạn chế rằng Hiến pháp cấm (Nhật) tham gia vào các hoạt động phòng ngự tập thể. Nay thì việc diễn giải đó đã dần dần được mở rộng hơn. Khi Nhật tiến tới sự hợp tác quân sự song phương chặt chẽ hơn với Mỹ thông qua việc triển khai quân đội Nhật để hỗ trợ các chiến dịch quân sự do Mỹ dẫn đầu ở Afghanistan và Iraq, đặc biệt là thông qua việc cùng nhau xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, việc cấm tham gia các hoạt động phòng thủ tập thể trên thực tế đã bị xoá bỏ. Quốc hội Nhật ngày càng ủng hộ việc tái diễn giải hiến pháp này, thậm chí là chỉnh sửa lại Điều số 9, để có thể công khai mở đường về mặt pháp lý cho việc tham gia các hoạt động phòng thủ tập thể.

Mạnh mẽ hơn!

Thứ ba, trong suốt Chiến tranh Lạnh, Nhật đã hạn chế khả năng quốc phòng của mình luôn ở mức tối thiểu cần thiết để bảo vệ lãnh thổ của mình. Thế nhưng gần đây, Nhật đã mua các máy bay tiếp dầu của Boeing và có kế hoạch mua các tàu sân bay để chở trực thăng. Ở đây người ta có thể thấy được Nhật hiện giờ hết sức sẵn lòng trong việc tăng cường khả năng triển khai sức mạnh của mình. Sự kiên quyết tránh mọi cam kết đối với an ninh khu vực đã bị thay thế bởi sự hợp tác ngày càng sâu rộng với Mỹ.

Hơn thế nữa, trong suốt thời Chiến tranh Lạnh, Nhật hầu như tránh đề cập mối quan tâm chiến lược đối với hoà bình và an ninh của Đài Loan, thì vào tháng 2/2005, trong một tuyên bố chung với chính phủ Mỹ, Nhật đã công khai đưa ra tuyên bố về vấn đề này. Khi mà các nhà lãnh đạo Nhật bắt đầu công khai thể hiện mối quan ngại ngày càng tăng đối với những ý đồ quân sự của Trung Quốc, họ đã thể hiện xu hướng tiến tới một vai trò quân sự chủ động hơn. Trong những năm sau Chiến tranh Lạnh, Nhật đã lặng lẽ tiến hành hiện đại hoá quân đội một cách ấn tượng, đưa quân đội Nhật có sức mạnh tương đương với Anh hoặc Pháp. Sức mạnh của không quân và hải quân Nhật đứng thứ hai trong khu vực, chỉ sau Mỹ.

Thứ tư, việc cấm Nhật sở hữu vũ khí hạt nhân do thủ tướng Sato Eisaku tuyên bố vào năm 1967 vẫn còn đó, nhưng đó không còn là điều cấm kỵ trong các buổi tranh luận. Việc giải quyết nguy cơ hạt nhân của CHDCND Triều Tiên là mối quan tâm hàng đầu của Nhật. Năm 2003, nguyên thứ trưởng ngoại giao Nhật đã mô tả việc Bình Nhưỡng sở hữu vũ khí hạt nhân là “hoàn toàn không thể chấp nhận và thực sự là ác mộng”, sẽ buộc Nhật đứng trước “sự lựa chọn đau đớn: hoặc phải chấp nhận trở thành nạn nhân của mối đe doạ hạt nhân, hoặc phải phát triển khả năng hạt nhân của mình – điều sẽ gây nên xáo trộn trong nội bộ Nhật”.

Chương trình hạt nhân và tên lửa của CHDCND Triều Tiên đã kích động sự quyết đoán của Nhật. Sau vụ CHDCND Triều Tiên thử tên lửa trên vùng biển Nhật Bản vào ngày 4/7/2006, Shinzo Abe, chánh văn phòng nội các – người có khả năng sẽ kế nhiệm Koizumi – đã công khai nói rằng Nhật có quyền tiến hành các cuộc tấn công phủ đầu nếu Nhật bị đe doạ tấn công. Nhật không có khả năng thực hiện các cuộc tấn công như vậy, nhưng sự ủng hộ của công chúng đối với việc phát triển khả năng đó đang ngày càng tăng. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc phát triển khả năng hạt nhân cũng bị xem là mối đe doạ đối với Nhật. Các nhà lãnh đạo bảo thủ của Nhật đã không hề giấu diếm gì rằng họ sẽ tiếp tục nghiên cứu khả năng phát triển hạt nhân. Điều đó sẽ cho Nhật thêm sức nặng đối với các đối thủ tiềm tàng cũng như đối với đối tác liên minh của Nhật là Mỹ. Tuy nhiên, chừng nào mà liên minh với Mỹ và cái ô hạt nhân của Mỹ còn đáng tin cậy thì khó có khả năng Nhật sẽ thực thi tính toán này.

Thứ năm, điều cấm do Nhật tự áp đặt từ năm 1976 về việc chia sẻ công nghệ quân sự hay xuất khẩu vũ khí sẽ bị phá bỏ khi năm 2003 Nhật quyết định sẽ mua của Mỹ một hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) và cùng Mỹ triển khai các hoạt động hợp tác phát triển công nghệ BMD tiên tiến. Quyết định này có tầm quan trọng tiềm tàng, một phần bởi nó sẽ dẫn tới hợp tác chặt chẽ hơn trong liên minh, bao gồm việc hai bên chia sẻ thông tin và công nghệ trong việc vận hành và phát triển hệ thống BMD.

Những bước đi này không chỉ bị thúc đẩy bởi chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên và mối quan ngại đối với sự phát triển quân sự của Trung Quốc, mà còn thuận theo mong muốn của giới kinh doanh Nhật. Ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật đã sẵn sàng cùng các đồng nghiệp Mỹ phát triển hệ thống laser cho không quân và các công nghệ đầy tham vọng khác. Đầu năm nay, Giám đốc Cơ quan phòng thủ tên lửa Mỹ đã nói với Quốc hội Mỹ rằng Nhật đã trở thành đối tác quốc tế quan trọng nhất của Mỹ trong việc phát triển hệ thống BMD.

Thứ sáu, chính thức thì ngân sách quốc phòng của Nhật vẫn dưới mức 1% GDP, tuy nhiên cách tổ chức và tính toán ngân sách của chính phủ Nhật đã không tính những khoản thực tế là dành cho mục đích quân sự, do đó đã làm giảm tỷ trọng của ngân sách trong GDP trên giấy tờ. Dù thế nào thì ngân sách quốc phòng của Nhật cũng vào khoảng thứ ba hoặc thứ tư trên thế giới. Trong ngắn hạn thì mức nợ công cao của Nhật không cho phép gia tăng chi phí cho quân sự, nhưng các khoản chi cho quốc phòng đang hướng mạnh vào các công nghệ mới chứ không tập trung cho các phần cứng như trong thời Chiến tranh Lạnh.

Cuối cùng, nghị quyết năm 1969 của Quốc hội Nhật cấm việc sử dụng khoảng không cho mục đích quân sự cũng chuẩn bị được công khai gạt sang một bên. Năm 2003, Nhật đã phóng vệ tinh do thám quân sự đầu tiên. Năm 2006, Ban chấp hành của đảng cầm quyền đã chuẩn bị một biện pháp cả gói, theo đó Nhật được phép sử dụng khoảng không cho mục đích phòng thủ.

Khôi phục quốc phòng – củng cố đồng minh

Những thay đổi trong chính sách an ninh của Nhật kể từ sau Chiến tranh Lạnh là rất lớn, nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu cho một chính sách đối ngoại hoàn toàn mới và một hệ thống thể chế đối nội hỗ trợ nó.

Cần lưu ý rằng, bằng cách ràng buộc mình qua những hạn chế tự áp đặt, Nhật đã bảo toàn được phương thức hết sức quan trọng để có được sự tự chủ trong tương lai. Điều này tương phản với nước Đức sau chiến tranh, khi mà nước này chọn con đường gắn chặt vào những khuôn khổ đa phương đầy những nghĩa vụ về kinh tế và an ninh như NATO hay Liên minh châu Âu. Điều đó đã hạn chế những sự lựa chọn trong tương lai của Đức, dù rằng nó có thể làm những người láng giềng của họ thấy yên lòng. Còn Nhật thì lại khác. Quốc gia này đã phản đối bất kỳ sự dính líu nào như vậy.

Trên thực tế, những sự hạn chế đối với khả năng gây hấn của Nhật là do nước này tự áp đặt, do đó đã cho phép giới tinh hoa của Nhật có thể kiểm soát được phương hướng và nhịp độ quá trình thích ứng với môi trường an ninh mới. Từ từ từng bước thích ứng trước từng vụ việc, theo một cách rất khó nắm bắt, Nhật đã nới lỏng những sự tự hạn chế đó.

Việc Nhật chuyển hướng có một tác động hết sức to lớn đối với liên minh với Mỹ cũng như đối với cân bằng quyền lực trong khu vực. Gần như suốt trong Chiến tranh Lạnh, hầu như không có sự hợp tác nào giữa quân đội Mỹ đóng ở Nhật và Lực lượng phòng vệ Nhật: không liên kết, không chỉ huy chung, không trao đổi thông tin, và hết sức hạn chế tham vấn.

Bắt đầu từ cuối những năm 1990, hợp tác quân sự với quân đội Mỹ đã dần dần được tăng cường theo nhiều cách khác nhau, thông qua việc Nhật tiến hành xem xét lại học thuyết quân sự, đường lối quốc phòng và việc thông qua các điều luật kèm theo. Quyết định hợp tác toàn diện trong lĩnh vực phòng thủ tên lửa có tầm quan trọng đặc biệt, nếu xét theo những tác động dài hạn của nó đối với mối quan hệ song phương đang ngày càng phát triển chặt chẽ hơn.

Xác lập lại giá trị và những nguyên tắc cơ bản của liên minh

Sự xuất hiện của một mối quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật thực tế hơn sẽ càng tăng cường sự thống trị về quân sự của Mỹ ở Đông Á và trên toàn thế giới. Trung Quốc và Hàn Quốc sẽ nhìn nhận sự quyết đoán ngày càng tăng của Nhật với sự nghi ngờ sâu sắc, đồng thời cũng công nhận rằng bản thân sự tồn tại của liên minh cũng sẽ là một sự kiềm chế đối với khả năng quân sự độc lập của Nhật.

Nhưng đúng như một bản báo cáo của hai đảng ở Mỹ (Cộng hoà và Dân chủ) đưa ra năm 2000 hy vọng, mối quan hệ của Mỹ với Nhật sẽ không giống quan hệ với Anh. Nhật Bản là Nhật Bản. Động cơ của Nhật là những nhu cầu, giá trị, truyền thống và tập quán rất khác. Việc Nhật sẵn sàng thắt chặt quan hệ hợp tác không phải là kết quả của những giá trị hai bên cùng chia sẻ, mà là kết quả của sự đánh giá thực tế về giá trị của liên minh.

Cách Mỹ và Nhật nhìn nhận đặc tính và giá trị tương lai của liên minh trong thời đại mới là khác nhau.

Người Mỹ thì tương đối rõ ràng, thẳng thắn và mạnh mẽ trong việc nhìn nhận vai trò tương lai của liên minh. Theo quan điểm của Mỹ, liên minh cần được mở rộng để duy trì ổn định khu vực và thông qua việc tái sắp xếp lực lượng để trở thành một chiến tuyến trong cuộc chiến toàn cầu chống chủ nghĩa khủng bố. Bên cạnh việc triển khai lực lượng một cách hiệu quả hơn từ các căn cứ ở Nhật, Mỹ cũng dự báo Nhật sẽ tăng cường tham gia vào “các liên minh ý chí” trong cuộc chiến chống khủng bố, nếu như được yêu cầu.

Nhật sẽ có cái nhìn khác đối với liên minh, và cách nhìn đó khó có thể làm liên minh hoạt động trơn tru. Họ sẽ tìm kiếm sự tự chủ tối đa nhằm phục vụ cho mục tiêu của mình, kể cả khi liên minh mang tính có đi có lại hơn. Họ sẽ không mong muốn trở thành con tin của chiến lược toàn cầu của Mỹ, của quan hệ Mỹ-Trung, Mỹ-Hàn. Ngoài ra, những nhu cầu của Nhật với tư cách là một quốc gia châu Á cũng đòi hỏi một xu hướng độc lập. Cho tới nay, người Mỹ vẫn duy trì vai trò người ngoài cuộc và không cam kết gì với triển vọng xây dựng một thể chế đa phương nhằm tăng cường hội nhập khu vực và cũng phục vụ những mục tiêu của Nhật. Cách Nhật xác định lợi ích chiến lược của họ cũng sẽ khác, ví dụ như Nhật hy vọng xây dựng giếng dầu khổng lồ Azadegan ở Iran (trong khi Mỹ cự tuyệt quan hệ với Iran – ND).

Việc ý kiến của công chúng ngày càng có ảnh hưởng về chính sách đối ngoại cũng sẽ gây ra những lúc khó khăn. Hiện nay ở cấp địa phương Nhật có một hệ thống chính trị ngày càng tích cực và chủ động hơn, trong khi hội chứng “không-phải-ở-sân-sau-của-tôi” (NIMBY – not-in-my-backyard) cũng sẽ ngày càng hiện rõ trong quan hệ với Mỹ.

Sự hiện diện của hàng chục nghìn quân Mỹ, cùng nhiều căn cứ không quân và hải quân nước ngoài ngay gần các khu dân cư chắc chắn sẽ ngày càng gây ra nhiều phiền phức khó có thể chấp nhận. Trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, Mỹ đã duy trì một số lượng lớn các căn cứ, cùng với chúng là các vùng trời, đất đai và hàng rào thép gai trên đất Nhật. Trong những tình huống đặc biệt, cơ cấu của các căn cứ này chắc chắn sẽ là nguồn gốc của không ít sự va chạm. Cho tới nay, những mâu thuẫn kéo dài xung quanh các căn cứ ở Okinawa đã tác động tiêu cực cho quan hệ hai bên. Nguy cơ một vụ việc xảy ra – ví dụ như một máy bay Mỹ rơi vào một khu đông dân cư hoặc vào trường học – có thể làm tổn hại quan hệ hai bên đang hiện hữu hơn bao giờ hết.

Năm 2006 Mỹ đã quyết định tới năm 2014 sẽ chuyển xong 8000 lính thuỷ đánh bộ từ Okinawa tới Guam. Đó là một phản ứng cụ thể trước yêu cầu tất yếu phải xem xét lại những nguyên tắc cơ bản của liên minh.

Chính sách mới của một thế hệ lãnh đạo mới

Những thay đổi trong các thể chế đối nội để hỗ trợ cho chính sách đối ngoại mới cũng hết sức ấn tượng và sâu rộng.

Nhật đang nghiêm túc xem xét lại hiến pháp. Người ta sẽ không chỉ sửa đổi Điều 9 Hiến pháp hoà bình mà còn thay đổi cả những giá trị mà người Mỹ đã viết trong văn bản đó, theo những cách tương thích với mô hình tư duy của chính người Nhật. Những sự sửa đổi trên thực tế đang diễn ra. Hơn nữa, vị trí yếu ớt của thủ tướng trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh sẽ được tăng cường để có quyền hành pháp mạnh hơn nhằm điều phối chính sách đối ngoại, xử lý các vụ việc và phản ứng nhanh chóng, linh hoạt trước những yêu cầu của an ninh quốc tế. Cục Phòng vệ Nhật sẽ nhanh chóng được nâng lên cấp bộ, phản ánh ảnh hưởng ngày càng tăng của họ trong việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại. Trong khi đó, các điều luật liên quan tới tình trạng khẩn cấp hoặc tình trạng khủng hoảng đã được thông qua để chuẩn bị cho một loạt các nguy cơ an ninh mới, bao gồm các vụ tấn công tên lửa, lãnh hải Nhật bị xâm phạm, các vụ tấn công bằng vũ khí sinh hoá và các hoạt động khủng bố khác.

Hệ thống chính trị của Nhật cũng đang thích nghi với những điều kiện mới. Quyền lực và ảnh hưởng của bộ máy quan chức, đặc biệt là những viên chức kinh tế, trong thời Chiến tranh Lạnh đang bị các chính trị gia chuyên nghiệp thay đổi. Hệ thống đảng phái đang tái tập hợp để tìm kiếm sự đồng thuận đối với một chính sách đối ngoại mới. Dư luận và ảnh hưởng của một thế hệ mới các nhà lãnh đạo bảo thủ, ít bị ảnh hưởng hơn bởi những ký ức đau thương trong Đại chiến II, đang xuất hiện.

Cuối cùng, có lẽ là điều cho thấy rõ nhất sự chuyển hướng của Nhật là việc nước này đã giành lại được tiếng nói, ý chí và tinh thần chính trị từ lâu đã bị lép vế trước những ưu tiên giành cho thương mại vốn làm tổn thương lòng tự hào dân tộc. Một ví dụ: xu hướng mới của Nhật là phải cứng rắn để gây sức ép với Trung Quốc trên nhiều vấn đề. Một ví dụ khác: Nhật ngày càng bày tỏ mong muốn có được một ghế thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cho xứng với bản sắc riêng của Nhật vốn là một cường quốc hàng đầu. Sau một thời gian dài thụ động về chính trị, một nước Nhật trẻ trung hơn giờ đây thấy rằng lòng sẵn sàng bày tỏ lập trường mạnh mẽ và rõ ràng chính là sự giải phóng.

Tựu chung, những thay đổi Nhật đang tiến hành không phải là những sự điều chỉnh bên lề. Chính xác hơn, những thay đổi đó nhằm vào việc xem xét lại toàn bộ hệ thống Nhật.

Khó có thể tiên đoán được quá trình chuyển đổi chính sách và thể chế này của Nhật sẽ diễn ra nhanh hay chậm. Người ta không thể nói trước được điều gì sẽ đẩy nhanh quá trình này, nếu nhìn vào sự chuyển biến dần dần như hiện nay. Điều đó sẽ phụ thuộc vào nhiều nhân tố, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, Nhật đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên mới trong quan hệ với thế giới bên ngoài.

Khi nước này trở thành một chủ thể chính trị-chiến lược quyến đoán hơn, các nhà quan sát quốc tế sẽ một lần nữa phải ngạc nhiên trước sự chuyển hướng mang tính cách mạng này. Chính sách đối ngoại tương lai của Nhật sẽ rất khác với đại chiến lược mà Yoshida đi tiên phong. Vai trò thời Chiến tranh Lạnh của Nhật chủ yếu trong lĩnh vực thương mại và các thể chế đối nội chủ yếu gắn liền với vai trò đó sẽ trở thành một phần của quá khứ rất riêng mà thôi.

(Theo Kenneth B. Pyle*)
* Kenneth B. Pyle là giáo sư về lịch sử và Châu Á tại Đại học Washington. Ông là người sáng lập và là chủ tịch Cơ quan Quốc gia Nghiên cứu Châu Á (Mỹ). Bài viết “Sự chuyển hướng lịch sử của Nhật Bản” (Japan’s historic change of course) được đăng trên Tạp chí Current History, số tháng 9 năm 2006.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: