Các con phố ở Hà Nội phần 5

Phố Hàng Cá không còn bán cá

Hanoinet) Con sông Tô, bắt nguồn từ bến chợ Gạo, chảy qua Nguyễn Siêu, ngõ Gạch, Cầu Đông, Hàng Cá, xuôi xuống cống chéo Hàng Lược. Thời đó có trại Tiên Ngư trên bờ sông Tô, một bên là phường Đông Hà, một bên là phường Vĩnh Thái. Người dân trại Tiên Ngư làm nghề đánh cá. Trại Tiên Ngư sau đổi tên là thôn Đông Thuận.

Đông Thuận có đình ngói ở 27 Hàng Cá, tên dân gian gọi là Đình Hàng Cá thờ ông Lý Tiến, một vị tướng thời Hùng Vương, có công đánh giặc.

Phố Hàng Cá dài 120m, từ Hàng Đường đến phố Thuốc Bắc cắt ngay phố Chả Cá. Trước 1975 phố Hàng Cá cũng nhiều “phố nhỏ, ngõ nhỏ” không có vị trí buôn bán, sản xuất hàng tiêu dùng. Cả phố Hàng Cá chỉ có một cửa hàng bán hương nén. Nhà cửa ở phố dành cho cánh công chức “sáng vác ô đi tối vác về” đi làm tong công sở hoặc các thương nhân buôn bán ở chợ Đồng Xuân. Bảy giờ tối phố Hàng Cá “vắng như chùa Bà Đanh”.

“Thời mở cửa”, phố Hàng Cá như bừng giấc ngủ, trở thành con phố buôn bán sầm uất, đủ mọi mặt hàng, khách hàng qua lại tấp lập từ sáng sớm cho tới đêm khuya.

Hàng Cá chẳng có cửa hàng nào bán cá. Nhiều nhất là các cửa hàng mỹ phẩm, xà phòng ômô cao cấp rất sang trọng. Bán mỹ phẩm – làm đẹp đầu tiên ở phố Hàng Cá, phải kể đến ông Núi ở số 6 là người “khai sơn phá thạch”, ông “đánh” hàng từ trong Nam ra và Trung Quốc về. Khách đến “bỏ mối” từ “tổng đại lý” nhà ông, đem về các tỉnh xa bán lẻ cho bà con. “Hậu sinh khả uý”, thế hệ trẻ ngày nay nhiều người làm ăn lớn hơn ông nhiều bạo tay “làm ăn lớn”, họ “vượt” ông “buôn gốc bán ngọn”.

Phố Hàng Cá, phần áp với phố Thuốc Bắc, Lò Rèn biết “ăn theo” bằng các mặt hàng kim khí hóa chất, đồ điện dân dụng, dây thép, cuốc xẻng, đinh, búa, sơn. Các cửa hàng khóa nội chất lượng cao, tiêu biểu là công ty Huy Hoàng, do thợ Việt Nam thết kế, sản xuất. Nhiều mẫu mã tốt, rẻ, vừa túi tiền, bà con lao động, đặc biệt là nông dân rất ưa chuộng. Cửa hàng của công ty xuất nhập khẩu tổng hợp bán đủ các loại quần áo trẻ em, người lớn, đồ lót, giầy dép¦ khách hàng đã vào, khi ra không thể không mua cho mình một thứ hàng nào đó vì¦ giá rẻ bất ngờ.

Phố Hàng Cá có cửa hiệu cà phê “nhĩ” xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ trước. Cửa hiệu cà phê “Nhĩ” chẳng giống ai: Không bán kèm thuốc lá, cũng chẳng có đèn mầu “khi tỏ khi mờ”, không nhạc xập xình. Bàn ghế đơn giản. Nhân viên phục vụ là con cháu trong nhà…

Nhưng cà phê “Nhĩ” có khách riêng “chung thân” suốt đời. Bà con phố cổ, bà con tiểu thương các chợ Đồng Xuân, Hàng Da, sau khi ăn sáng, bắt đầu một ngày lao động đều “ghé” cà phê “Nhĩ” thưởng thức một tách “đen” hoặc “đá” râm ran trò chuyện đông chật cửa hàng.

Người khôi phục 21 loại lụa Hà Đông

(Hanoinet) Ông Mão ngồi lặng yên, thảnh thơi như sợi tơ đang trải dài trước mặt. Ông chẳng phải nghỉ ngơi mà chờ¦ rình cái giây phút quyết định để những sợi tơ vô tri kia lên tiếng và đôi tay thô ráp sẽ khéo léo quyện chúng vào nhau¦ Những loại lụa vân, những dáng hoa văn cổ được phục hồi. Ở chúng đã thấm đẫm những giọt mồ hôi và cả tâm huyết mấy chục năm của ông.

Nghề dệt… hồi sinh

Đã đành một nhẽ rằng tơ là sản vật độc đáo, bí ẩn mà tạo hóa ban cho nhưng để chúng trở nên có hồn một cách lung linh như thế thì lại phải trải qua một quá trình khác. Mà ông Mão là người ở trong quá trình đó.

Trời mưa phùn rả rích, tôi thích nhìn nghệ nhân già trong cái độ thời tiết như thế này. Ông Lão ngoài thất thập, mắt long nhãn, đôi tay thô ráp luôn đan lại khi nói chuyện. Ông là người đã phục chế rất nhiều loại lụa quý hiếm của làng Vạn Phúc (thị xã Hà Đông).

Cuộc nói chuyện của tôi với người chủ nhà mến khách cứ dài mãi¦ Từ khi lên 7, cậu bé Mão đã được cha mẹ cho học xe tơ dệt lụa theo cách cha truyền con nối. Lớn lên ông làm cán bộ ngành kim khí rồi đi bộ đội…Những đêm ở chiến trường Trị Thiên ác liệt, tiếng thoi đưa lách cách và những tấm lụa vân óng ả trong nắng ấm vẫn luôn ám ảnh chàng trai xứ lụa.

Chiến tranh kết thúc, chế độ bao cấp coi hàng tơ lụa là xa xỉ đã làm cho nghề dệt lụa kém phát triển. Trở về làng làm cán bộ xã, thấy bà con phải phá khung dệt đi để dệt thảm đay, thảm len xuất khẩu sang Liên Xô, Đông Âu. Đến khi không còn hợp tác xã, hết thị trường, người làng lụa ngơ ngác, canh cửi bỏ không, người đi buôn, kẻ làm ruộng, tưởng như mất nghề. Ông xót xa, đi từng nhà, tìm từng mảnh lụa chờ cơ hội dựng lại máy dệt cổ. Ai có mẫu sản phẩm cổ là xin sao chép lại. Rồi cơ chế thị trường đến, người làng lụa mới như sống lại và nghề dệt hồi sinh.

Người khôi phục 21 loại lụa Hà Đông

Nói đến lụa Hà Đông thì phải nói đến lụa vân, thứ lụa mịn mặt mát tay. Vân nghĩa là mây; có mây trên lụa. Nhìn lụa như thấy có mây là thứ lụa mượt mà, mà lại nổi vân là khó lắm! Thế nên tuy giá cao nhưng vẫn thu hút được nhiều khách hàng vì sự độc đáo và thương hiệu của nó trong quá khứ: “The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng – Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn”.

Dạo tôi gặp ông, ấy là thời điểm Festival Huế 2000, lúc đó tên tuổi ông như sóng cồn, người ta đánh giá ông rất cao. Nhưng ôngbảo: Có hay không vẫn chỉ thế thôi bởi khát vọng lớn nhất của tôi là làm sống lại những kỹ thuật cổ truyền của làng lụa Hà Đông mà giờ đây đã trở nên xa lạ đối với nhiều người trong làng.

Điều mà người ta nói nhiều về nghệ nhân này ấy là chuyện ông cất công tìm kiếm, khôi phục và bảo lưu 21 loại lụa vốn đã bị mai một theo thời gian. Trong đó đặc biệt có những loại vân quý hiếm như: lụa Vân quế Hồng Điệp, lụa vân Triệu Thọ, lụa vân Tứ Qúy, lụa vân Long Phượng mây bay, lụa sa tanh Bát Bửu¦

Khi nhận được bất kỳ một mẫu cổ nào, ông lại cặm cụi nghiên cứu và hợp tác với những nghệ nhân cao tuổi trong làng: cụ Bằng thì giúp vẽ lại mẫu hoa văn, cụ Nguyễn Đễ chỉnh khung dệt, cụ Nguyễn Văn Tư lo phần máy móc… Nhưng cái khó là ở chỗ các loại vân này đã thất lạc trong nhân dân qúa lâu, nhiều mảnh lụa sót lại chỉ bằng bàn tay.

Năm 1994, ông Trịnh Bách, người con của làng dệt Vạn Phúc từ Mỹ về quê mang theo dự án khôi phục những bộ triều phục thời Nguyễn đã cộng tác với ông Mão. Bỏ bao công sức, tiền của trong sáu năm trời, ông đã làm “sống lại”

Từ Hàng Sơn đến Chả Cá

Phố Hàng Sơn ban đầu chỉ là một ngõ hẹp, đầu thế kỷ XX vẫn còn là một lối đi vừa một chiếc xe tay. Cả phố chỉ có dăm nhà chuyên buôn bán sơn sống đưa từ Phú Thọ về. Vùng Đông Nam Á, một số nước trồng được cây sơn, nhưng cây sơn ở Phú Thọ có giá trị cao. Vì thế nhựa sơn và hàng sơn Việt Nam đã nổi tiếng ở nhiều nơi trên thế giới.

Người ta đã sử dụng sơn vào hai việc: Sơn quang dầu và sơn mài. Nhựa sơn pha với dầu trầu để vẽ, giữ nguyên độ bóng, gọi là sơn quang. Sơn mài tuy ra đời muộn hơn quang dầu nhưng đã làm cho khả năng nghệ thuật của sơn nâng cao lên rất nhiều: Sơn son thếp vàng, thếp bạc, các án thủ, ngai kiệu, hoành phi, câu đối, có cả hình phượng múa, rồng chầu… ở các đình chùa cổ kính, những di tích văn hóa lịch sử…

Rồi các mặt hàng mỹ nghệ: lọ hoa, tranh phong cảnh, ảnh màu, tượng gỗ,… sơn quang dầu của các nghệ nhân Việt Nam được khách trong và ngoài nước yêu thích.

Từ năm 1945, ở phố Hàng Sơn không còn gia đình nào làm nghề bán sơn nữa. Giữa phố “mọc lên” một cửa hàng Chả Cá tại số nhà 14, ngoài cửa bầy tượng ông Lã Vọng ngồi câu cá. Tên hàng trở thành tên phố.

Phố Chả Cá dài 180m, bắt đầu từ ngã năm Hàng Mã – Hàng Lược, đến ngã tư Lãn Ông – Hàng Cân. Phố Chả Cá, hai bên mặt phố chỉ là tường bên và cổng hậu của những cửa hàng có mặt tiền quay mặt ra phố Hàng Mã, Hàng Đường và Hàng Cá. Nhà cửa cũ kỹ, xây kiểu cổ, diện tích hẹp, nền cao, gác thấp, cửa gỗ. Cho tới thời mở cửa, bộ mặt phố Chả Cá thay đổi đến chóng mặt. Nhà cửa hai bên phố được xây dựng lại. Các gia chủ khắc phục “đất hẹp” bằng cách tăng chiều cao, cửa gỗ được thay bằng cửa sắt, cửa cuốn và các cửa hàng cũng khang trang, đẹp đẽ.

Hai chục năm “đổi mới”, phố Chả Cá phát triển rất mạnh. Trước hết phải kể tới “đặc sản” có mặt tại Chả Cá sớm nhất: nhà hàng Chả Cá. Hiện nay Hà Nội có nhiều cửa hàng bán chả cá, song “xịn” nhất, ngon nhất là chả cá ở phố Chả Cá. Vì cá ở đây là loại cá lăng sông Thao, sông Lô, sông Hồng được “đánh” về nuôi trong các bể lớn. Cá được lạng ra thành miếng, ướp riềng, hạt tiêu.

Khách tới ngồi vào bàn, nhà hàng đem đến một bếp lò đỏ rực than hồng, trên có chiếc chảo nhỏ. Khách tự thả từng miếng cá đã nướng vàng, mỡ reo nổ tí tách khi được phủ thì là, hành hoa. Các gia vị được bày ra: Mắm tôm hoặc nước mắm pha chút tinh cà cuống, chanh, ớt, lạc, hành hoa củ chẻ mỏng, rau thơm, mùi, thì là, hành hoa: Cá chín, tạo một hương vị cực kỳ hấp dẫn.

Một miếng cá, một ít lạc, rau sống chấm vào bát mắm tôm chanh ớt cà cuống, gắp lên miệng, nhai từ tốn để thưởng thức cái nóng, cay, thơm lan tỏa, chiêu thêm một “tợp” rượu nếp cái hoa vàng nữa, cứ gọi là ngất ngây. Chả cá Lã Vọng, món quà quen thuộc của khách trong và ngoài nước.

Cùng với chả cá, phố còn cửa hàng “Hà Nội phố” bán mì vằn thắn, hàng phở gà, bún thang phục vụ khách vào buổi tối. Ba cửa hàng ăn, tạo thế “chân vạc” phác thảo một nét chấm phá ẩm thực khó quên.

Cửa hàng hoa lụa của nghệ nhân Mai Hạnh xuất hiện bên số lẻ khi Hà Nội còn xa lạ với chủng loại hoa độc đáo này. Bây giờ hoa lụa Mai Hạnh trở thành một thứ hàng nội “chất lượng cao” đã vượt biên giới xuất khẩu đến với nhiều bạn bè trên thế giới.

Phố Chả Cá có “sự phân công lao động” rất rõ: bên số chẵn dành cho các cửa hàng đồ chơi trẻ em, bên số lẻ các cửa hàng văn phòng phẩm: Mai Uyên, Thanh Thúy, Mai Hương, Sơn Thảo, Phương Anh. Đặc biệt bút bi Bến Nghé chiếm lĩnh thị trường, độc quyền cung cấp cho một số trường cấp 1 – 2
Văn Miếu – Quốc Tử Giám – Cái nôi trí tuệ Việt Nam

(Hanoinet) Năm Canh Tuất 1070, đời Lê Thánh Tông, vua cho dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền. Sau đó Văn Miếu là nơi Hoàng Thái tử đến học nên có tên gọi là Thái Học.

Năm Bính Thìn 1076, lập nhà Quốc Tử Giám làm nơi học tập của con quan lại và giới quý tộc. Đến đây, Văn Miếu – Quốc Tử Giám trở thành trường học đầu tiên quy mô lớn đào tạo hiền tài cho đất nước, và trở thành cái nôi của trí tuệ Việt Nam. Văn Miếu – Quốc Tử Giám ra đời, Nho giáo đã trở thành Quốc giáo phát triển cho đến tận những năm đầu thế kỷ XX.

Giám sinh (học trò Quốc Tử Giám) là những người đã đỗ thi Hương và phải qua một kỳ kiểm tra nghiêm nhặt, để chuẩn bị cho kỳ thi Hội và thi Đình. Quá trình học tập chủ yếu là nghe giảng sách, bình văn và làm văn.

Năm ất Mão 1075, vua Lý Nhân Tông tổ chức khoa thi Minh Kinh bác học đầu tiên và khoa thi Nho học tam trường. Trong thời gian tồn tại của mình, triều Lý đã tổ chức bảy khoa thi, nhà Trần tổ chức 19 khoa thi. Kể từ khoa thi Thái Học sinh thứ ba, năm 1247 triều đình định ra tên gọi ba người đỗ cao nhất thuộc đệ nhất giáp là Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa.

Đến năm 1404, Hồ Hán Thương quy định cứ ba năm thi hội một lần. Kể từ năm 1442, khoa thi tiến

sĩ đầu tiên đời Lê Thái Tông trở đi thì cứ sáu năm tổ chức một kỳ thi. Đời vua Lê Thánh Tông, chế độ học hành, thi cử rất được coi trọng và đi vào nề nếp, cứ ba năm mở một kỳ thi. Những người đỗ đạt được triều đình tổ chức lễ xướng danh, trao bảng vàng, xiêm áo, được vinh quy bái tổ. Năm 1484, vua Lê Thánh Tông đã cho khắc tên những người đỗ đạt kể từ khoa thi năm 1442 để lưu danh trong lịch sử khoa cử của đất nước. Thời nhà Mạc, triều đình cũng đã tổ chức được 22 khóa thi. Khi nhà Nguyễn lên ngôi, vua Gia Long chuyển kinh đô và rời Quốc Tử Giám vào Phú Xuân (Huế), đồng thời cũng chấm dứt việc thi Hội, thi Đình ở Thăng Long.

Hiện tại, trong Văn Miếu vẫn tồn tại 82 bia tiến sĩ được dựng từ năm 1484 đến 1780, trên bia ghi rõ tên tuổi, quê quán của 1.307 vị đỗ đại khoa.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ là ngôi trường đào tạo nên những bậc hiền tài phò vua trị quốc, mà đây còn là một công trình có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật tiêu biểu của Thăng Long – Hà Nội.

Trấn Bắc tự, ngôi chùa gần 1500 tuổi

(Hanoinet) Chùa Trấn Quốc – Trấn Bắc tự là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở nước ta. Chùa được lập từ thời Lý Nam Đế (544- 548), gắn liền với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân. Thuở đầu chùa mang tên Khai Quốc (mở nước) đến năm Đại Bảo đời vua Lê Thái Tông chùa được đổi tên thành An Quốc.

Chùa nằm ở giữa bãi sông Nhị thuộc làng An Hoa, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Đến năm 1615, bãi sông bị sạt lở nên chùa được di dời đến làng Yên Phụ trên một đảo nhỏ nổi lên giữa bốn bề sóng nước hồ Tây, nơi xưa kia đã từng dựng cung Thúy Hoa đời Lý và điện Hàm Nguyên đời Trần.

Năm 1642, đắp con đê Cố ngự gọi trệch đi là Cổ ngư tức đường Thanh Niên bây giờ, nhân dân làng An Hoa đã xây dựng thêm thượng điện, nhà thiêu hương, đào hào, mở rộng khuôn viên chùa và lối đi… Năm 1628, chùa được đổi tên thành chùa Trấn Quốc. Đến năm 1844, vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong chuyến ra Bắc, khi đến thăm chùa và đổi tên thành Trấn Bắc tự, nhưng người dân vốn quen tên gọi là chùa Trấn Quốc cho đến ngày hôm nay.

Vẻ đẹp của ngôi chùa cổ đã được các bậc nho sĩ đương thời ngợi ca, nhất là sau khi chùa được dời về

doi đất cá vàng trên hồ Tây như bây giờ. Qua các giai đoạn lịch sử, ngôi chùa không ngừng được trùng tu, tôn tạo và luôn giữ được vị trí danh thắng bậc nhất kinh thành. Chùa Trấn Quốc đã kết hợp được vẻ đẹp cổ kính và không gian đẹp đẽ của cảnh quan thiên nhiên khu vực hồ Tây. Chùa còn lưu giữ rất nhiều tấm bia quý chứa các tư liệu lịch sử vô giá. Hệ thống tượng Phật trong chùa rất phong phú và giàu giá trị nghệ thuật, phải kể đến bộ Tam Thế, Niết Bàn cùng các vị sư tổ của chùa qua các thời kỳ. Vườn tháp chùa không chỉ là nơi viên tịch của các vị sư mà còn tô điểm thêm cho sự cổ kính, linh thiêng của ngôi chùa. Trong sân chùa là cây bồ đề cành lá sum suê rợp bóng mát, đó là quà tặng của cố Thủ tướng Ấn Độ Giaoa Háclan Nêru khi ông đến thăm Hà Nội và viếng chùa Trấn Quốc năm 1959.

Vẻ đẹp và giá trị lịch sử của chùa Trấn Quốc không ngừng được nghiên cứu và phát huy. Năm 1962, chùa Trấn Quốc đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Phố Yết Kiêu

(Hanoinet) Yết Kiêu lâu nay có lẽ không chỉ được nhắc đến như tên của một con phố, mà nó còn là cái từ được ít nhiều trọng vọng trong giới hoạ sĩ. Biệt ngữ dân Yết Kiêu đấy ngụ ý những nghệ sĩ mỹ thuật tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội, nằm ở tâm điểm của con phố tại số 42.

Ngôi trường được thành lập từ năm 1925, do công của hoạ sư người Pháp Victor Tardieu. Nơi đây từng làm rạng danh biết bao thế hệ hoạ sĩ Việt Nam; những bộ tứ Sáng – Nghiêm – Liên – Phái, Trí – Lân – Vân – Cẩn đã để lại dấu ấn đậm nét trong nền nghệ thuật Việt Nam.

Thuộc khuôn viên trường, Trung tâm Việt Art mới được khai trương vào đầu tháng 9 năm nay cũng là một địa chỉ mới cho dân nghệ. Địa chỉ này đã và đang khuấy động không khí nghệ thuật Hà Nội bằng các hoạt động mỹ thuật đương đại xen lẫn vào các cuộc triển lãm tranh. Do đó phố Yết Kiêu cũng được xem như phố của các nghệ sĩ.

Mỗi sáng đi qua đây, không có ý để tâm nhưng chắc hẳn bạn sẽ không thể bỏ qua hình ảnh một dãy dài dân nghệ tụ tập trà đá ngay phía ngoài cổng trường mỹ thuật, với nào lỉnh kỉnh bao giấy, cặp túi thùng thình trông có vẻ lếch thếch mà hoá ra cuốn hút.

Khoảng chục năm trở lại đây, đối lập với vẻ dân nghệ lãng mạn bên trường Mỹ thuật là sự hiện diện của Trung tâm FPT. Dân nghiền tin học thường xuyên qua lại đây. Kèm theo đó một địa chỉ cà phê wifi mới mở. Cái phong cách của dân PC, khiến người ta dễ dàng nhận ra ngay, nó đối lập hoàn toàn với những quán trà đá tràn cả ra vỉa hè của đám nghệ sĩ.

Ở đầu kia của phố, nơi giao nối với phố Nguyễn Thượng Hiền, còn có một góc khác của cuộc sống đương đại. Đó là khu chợ tạm ở ngay góc phố ngang Đỗ Hành, ồn ào, bận bịu và dân dã từ tờ mờ sáng.

Góp phần không nhỏ vào cái sự tấp nập mỗi sáng ở đây là quán phở gà ở số nhà 98. Cái thứ nước dùng trong veo đậm vị ngọt của xương, vài lát thịt gà mỏng và mềm, những sợi bánh phở đủ dai làm cho cái thú thưởng thức món sáng trên con phố này trở nên đáng nhớ. Đặc biệt là vào tiết đầu đông, cái se lạnh càng khiến cho bát phở gà vỉa hè nơi đây trở nên ấm lòng…

Thế mà lẫn trong cái không khí bình dân đặc quánh ấy lại là hai tiệm áo cưới khá nổi danh trên đất Hà thành: David Minh Đức, số 17 và đối diện nó là Thu Hương. Tiệm David Minh Đức nổi bật trước tiên nhờ không gian rộng thoáng của cả một toà villa thời Pháp có mặt tiền đến gần 20m. Tường kính làm nổi bật các thiết kế ấn tượng bày trên mannequin cũng như các poster quảng cáo. Còn bên kia, tiệm Thu Hương nhỏ xinh, dịu dàng với decor và thiết kế mẫu màu trắng e ấp dưới tán cây cổ thụ…

Một con phố, những nét đối nghịch nhau, những khoảng không gian trái ngược nhau… đã cùng tạo nên một vẻ đẹp và chiều sâu của bao người Hà Nội nữa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: