Các con phố ở Hà Nội phần 3

Phố “sách” Đinh Lễ – Phố “nhậu” Đinh Liệt

(Hanoinet) – Đinh Lễ, Đinh Liệt là hai anh em ruột, cháu gọi Lê Lợi là cậu. Các ông người làng Thủy Côi, huyện Lương Giang (nay là Thọ Xuân), Thanh Hóa. Khi Lê Lợi khởi binh ở Lam Sơn, cả hai anh em đều về “tụ nghĩa” Lam Sơn, trở thành tướng tâm phúc của Lê Lợi và đã có nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, lập nên triều đại nhà Lê.

Phố Đinh Lễ dài 200m, đầu phố nối với phố Ngô Quyền. Cuối phố giáp phố Đinh Tiên Hoàng tạo nên một “ngã ba” giàu có bậc nhất Hà Thành, một bên là Công ty vàng bạc đá quý, một bên là Bưu điện Quốc tế. Phố Đinh Lễ xưa vốn là một ngòi nước nhỏ thuộc thôn Hậu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương. Năm 1842, ngòi nước được lấp thànhđường, là phố Đinh Lễ ngày nay.

Bên số chẵn là các cơ quan của Nhà nước: Bộ Lao động Thương binh & Xã hội; Cục Phòng cháy chữa cháy – Bộ Công an, Bưu điện. Bên số lẻ, ngoàiCông ty Vàng bạc đá quý, Bưu cục phát hành báo chí, Công ty Quảng cáo và Hội chợ thương mại, còn là các siêu thị sách: An Ninh, Lâm, Huy Hoàng, Ngân Nga. Sách bán trong cửa hàng, sách tràn cả ra hè. Đầu phố có nhà “Bia Hầm” rất quen thuộc của các công chức, các nghệ sĩ của Nhà hát kịch Việt Nam và Hà Nội. Bia tươi, các đồ nướng ngon, rẻ, chỗ ngồi ấm cúng, kín đáo.

Phố Đinh Liệt dài 180m, nối phố Hàng Bạc và phố Cầu Gỗ. Đây nguyên là phần đất của thôn Gia Ngư và thôn Hương Minh, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Phố Đinh Liệt ngày nay thể hiện một nền kinh tế “mở” rất sôi động. Giữa phố có chợ Hàng Bè. phục vụ khách du lịch vào chợ, chơi chợ, sắm đồ, mua thức ăn từ các miệt vườn làng quê Việt Nam đưa đến.

Đầu phố là các khách sạn mini, các cửa hàng bán đồ lưu niệm, chụp ảnh, hàng thổ cẩm, đồ khảm trai, khảm gỗ: Mai Trang, Minh Thư… rất đông khách du lịch nước ngoài.Một số quán bán đồ ăn “chân quê” thuần Việt: như ốc nóng, bánh giầy giò, bánh cuốn Thanh Trì, bánh chưng, bánh giầy Quán Gánh, bánh bột lọc, bánh rán, cả ngô nếp nướng, giá rẻ. Các quán “nhậu” bình dân thu hút giới “sành” ăn đến phố Đinh Liệt rất đông. Trên phố còn có các cửa hàng mì vằn thắn có từ trên nửa thế kỷ, những người sáng lập món ăn có gốc gác từ Trung Quốc, và có nhiềuquán cơm bình dân “tự chọn”, buổi trưa rất đông khách. Ở đây còn có các sạp bán bánh mỳ, quán cà phê Sagô ở góc phố rất hấp dẫn

Cuốiphố Đinh Liệt bạt ngàn các cửa hàng bán đủ các loại len: Đức Dung, Lucky, Hải Tuyết, Anh Thành, Hà Thủy, Hạnh Thắng…. khách tuỳ ý chọn kiểu cách, mẫu mã, mầu sắc. Áo len, khăn len, mũ len được đan bằng tay khéo léo của các nghệ nhân dầy dặn được ưa chuộng.

Cự Đà – làng Việt cổ

Hanoinet) – Sau làng cổ Đường Lâm, Cự Đà là một trong những làng Việt cổ điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngành văn hoá thông tin đang có kế hoạch xếp hạng bảo tồn.

Đến Cự Đà đầu xuân Đinh Hợi, chúng tôi như được thả hồn vào một bức tranh quê nào đó của đầu thế kỷ 20. Cổng làng hình vòm cuốn, mái cong vút, hai cột bên và trên hai mặt đều đắp nổi chữ Hán thoạt trông cổng như một gác chuông chùa nào đấy. Cự Đà là một làng giáp với Hà Nội, thuộc xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.

Cái đẹp của làng là nép vào dòng sông Nhuệ quanh quanh, trước đây khi sông chưa bị ô nhiễm thì vẫn còn thấy con trẻ bơi lội tung tăng, còn đò ngang đò dọc. Cảnh trên bến dưới thuyền một thời vẫn còn lưu dấu ấn ở các bậc thềm gạch của mỗi xóm vươn ra mép nước.

Nhưng cái cổ kính của làng thì chính lại là các di tích. Đường cái làng là trục giao thông men theo bờ sông, mỗi ngõ đâm ngang lại có một cổng ngõ cũng theo mô hình cổng làng cổ kính.

Cái mô hình quy hoạch hình xương cá này điển hình cho một làng Việt cổ ven sông có hình thái kinh tế vừa nông vừa thương. Mặt tiền của làng không chỉ là cổng làng (mà làng có những 3 cổng, kể cả cổng giữa làng), lại còn là cả một dải bến sông.

Cái địa lợi trước đây của làng chính là “nhất cận thị, nhị cận giang”. Ngõ hẹp toả đi từng ngôi nhà, ngõ nào cũng hun hút sâu. Nhà cổ vẫn còn nhiều, nếu như căn cứ vào niên đại còn được khắc trên câu đầu một số nhà khung gỗ thì số nhà có tuổi từ 100 năm trở lên cũng còn hơn ba chục.

Những nhà này được lợp ngói ta. Còn số nhà tuổi 70-80 năm thì đếm không xuể. Trong lúc nhiều làng không còn bói đâu ra nhà cổ thì ở làng này vẫn còn cả một “kho”.

Người làng Cự Đà cũng bắt đầu ý thức được cái giá trị của nhà cổ từ khi thấy có các nhà khoa học Nhật Bản đến đo vẽ và láng máng hiểu được giá trị kinh tế và văn hoá cổ khi mà nơi đây được nâng cấp nay mai thành một điểm du lịch trọng điểm.

Cái cổ của làng còn ở ngôi chùa đã được xếp hạng Di tích Quốc gia. Chùa có tên là Linh Minh Tự, còn nguyên cột đá “cây hương” ghi lại năm trùng tu chùa là Chính Hoà thời Hậu Lê, 1695.

Những tưởng niên đại xây chùa và niên đại lập làng có lẽ khoảng 500-600 năm đổ lại. Nhưng phát hiện khảo cổ học ngay trong đầu xuân Đinh Hợi này đã kéo dài tuổi của làng Việt cổ Cự Đà lên đến khoảng 2000 năm.

Đó là việc đào được những viên gạch có hoa văn đắp nổi hình ô trám, hình đồng tiền, gạch múi bưởi được xếp từng hàng lớp khi tu sửa nền chùa đã phát hiện ra. Những viên gạch đặc trưng này của các ngôi mộ thời Bắc thuộc cách đây hai mươi thế kỷ.

Thêm nữa đầu làng còn có một gò cao tên gọi là Đống Già, được các nhà khảo cổ cho rằng đấy chính là một ngôi mộ gạch thời Bắc thuộc khá lớn. Phát hiện khảo cổ đã cho thấy làng đã được hình thành thuộc loại sớm nhất vùng và những nơi có mộ gạch như vậy thường là những trung tâm kinh tế, xã hội sầm uất một thời.

Miếu và đình làng cũng được xếp hạng Di tích Quốc gia. Đáng chú ý nơi đây còn có di tích đàn tế bằng đá xanh mà người dân vẫn gọi là đàn tế trời đất, một dạng của đàn Xã Tắc thuộc loại đẹp nhất nước.

Bên cạnh vẻ đẹp cổ, làng còn có vẻ đẹp cận đại. Đó là những ngôi nhà cổ và công trình kiến trúc được xây cất từ những năm 1920-1940 trông rất “Tây”. Ven sông còn để lại một cột cờ cao vút được xây dựng năm 1929, các di tích nhà Hội đồng, nhà Thọ từ (trường học).

Các nhà có kiến trúc theo kiểu nhà Tây giống với nhà Tây ngoài Hà Nội còn lại khoảng năm chục chiếc ở ngay trong làng. Vào thời đó, Cự Đà còn là thôn duy nhất của cả vùng có đường điện thắp sáng.

Những năm này cũng là những năm người làng kéo nhau ra Hà Nội lập xưởng, làm chủ nhà máy, chủ cửa hàng, tiệm buôn khá đông. Một loạt tên tuổi các nhà giàu Hà Nội lấy tên hiệu bắt đầu bằng chữ “Cự” như Cự Doanh, Cự Chân ngành dệt, Cự Phát… đều là người Cự Đà, chọn chữ Cự để ghi nhớ nơi chôn nhau cắt rốn.

Tầng lớp công thương ra Hà Nội cũng mang tiền về quê để xây nhà tậu ruộng. Dấu tích một thời còn để lại ở hai khối tượng cóc bằng đá xanh đặt ở bến sông, trên trụ đỡ tượng còn khắc dòng chữ Hán “Vạn cổ nghiễm nhiên” (Muôn đời trang trọng phú quý).

Trên hai khối tượng còn khoét lỗ để đèn dầu. Đó là một loại “hải đăng” để thuyền bè buôn bán trên sông Nhuệ trong những đêm tối trời định đúng hướng mà ghé vào cổng ngõ nhà ai đó.

Bên cạnh vẻ đẹp di tích vật thể, làng Cự Đà còn giữ được vẻ đẹp văn hoá phi vật thể. Người Cự Đà lập nghiệp khắp nơi và khá thành công ở Hà Nội, Hà Đông, cả ở nước ngoài. Nhiều người xa quê gốc Cự Đà lấy ngày hội làng 14 tháng Giêng là ngày kéo về làng tề tựu, dự hội, thắp hương cho tổ tiên.

Cự Đà còn là một làng nghề nổi tiếng xa gần bởi 2 đặc sản. Tương Cự Đà thuộc loại ngon nhất nước, ngày nay vẫn sản xuất cho khắp vùng và Hà Nội. Miến Cự Đà cũng là mặt hàng chủ đạo. Đến Cự Đà ngày nào cũng gặp hình ảnh miến được phơi trắng xoá ngõ xóm.

Với nhiều thế mạnh về mặt di tích, lại là một làng nghề đang ngày đêm nhộn nhịp, Cự Đà đáng để được coi là một địa điểm du lịch về một làng Việt cổ còn bảo toàn nhiều sắc thái truyền thống.

Một điểm mạnh nữa của ngôi làng về mặt du lịch là nằm quá gần Hà Nội: Cự Đà chỉ cách hồ Gươm vào khoảng 15km theo đường chim bay, đi ôtô, xe máy cũng được mà cưỡi xe đạp cũng xong.

Làm tranh từ… lông gà

Hanoinet)- Người sáng tạo nên những bức tranh… không giống ai – tranh cắt dán từ lông gà ấy là anh Đinh Ngọc Đạt, sinh năm 1960, ở số 13 Trần Quý Cáp, Hội An. Thú làm tranh từ chất liệu lông gà của Đinh Ngọc Đạt có từ những năm anh còn học phổ thông.

Làm tranh… không giống ai

Ngày ấy, đồ lưu niệm tặng nhau hiếm lắm nên anh bèn nghĩ đến chuyện làm tặng bạn bè vài món quà nho nhỏ từ… lông gà. Rồi ý tưởng làm những bức tranh khổ to bắt đầu nảy sinh khi anh vào bộ đội và kéo dài cho tới nay.

Đã có nhiều nhà nghiên cứu nghêï thuật, họa sĩ… tìm đến xem tranh lông gà của anh. Một tạp chí của Pháp khi thực hiện chuyên trang về Hội An đã chọn tranh của anh làm ảnh bìa. Tuy vậy, tranh lông gà của nghệ nhân Đinh Ngọc Đạt sau vài lần triển lãm cách đây mươi năm (khi chưa có… dịch cúm gà) còn thì kỳ dư chưa xuất hiện trên thị trường. Lý do, mỗi tác phẩm của anh luôn là độc bản, không bức nào giống bức nào nên dù chẳng phải sống sung túc gì nhưng đó là tâm huyết, tình cảm nên “bán đi thì tiếc lắm” như lời anh Đạt tâm sự.

Chỉ mãi là tranh lông gà!

Theo Đinh Ngọc Đạt, sở dĩ anh chọn lông gà làm chất liệu cho tranh của mình bởi có một sự phù hợp thú vị với không gian nơi anh sinh sống. Lông gà có chung một gam màu trầm – tối, ít rực rỡ rất hợp với “màu phố cổ” Hội An rêu phong cổ kính. Nếu so với các chất liệu tạo hình khác, màu sắc của lông gà có độ bền gần như vĩnh viễn…

Trên căn gác chật chội, ngày ngày Đinh Ngọc Đạt miệt mài làm tranh. Sau bản phác thảo trên giấy nền, công đoạn quan trọng nhất là dán những chiếc lông gà, màu lông phải lựa chọn kỹ để bố trí theo các quy luật sáng – tối, xa – gần… để bức tranh thể hiện tối đa các hiệu ứng mà anh mong muốn. Có bức phải mất hàng tháng trời mới hoàn tất. Chủ đề trong tranh lông gà của Đinh Ngọc Đạt cũng đơn giản, bình dị về các con hẻm phố, chùa Cầu, tự họa…

Nhiều người thưởng thức tranh nghệ thuật cắt dán từ lông gà của Đinh Ngọc Đạt rất ngạc nhiên và thú vị. Những tác phẩm này khi mang trưng bày tại một vài cuộc triển lãm đã gây ấn tượng thú vị cho khách tham quan.

Chưa từng được đào tạo qua một trường lớp nghệ thuật tạo hình nào, Đinh Ngọc Đạt phải tìm đọc rất nhiều sách để tự bổ túc cho mình. Có lúc, anh nhận làm việc ở một nhà sách lớn ở Hội An để có nguồn sách đọc, tiền lương để dành mua lông gà… Gần trăm bức tranh đã được anh hoàn thành trong gia cảnh khá chật vật như thế.

“Vàng ròng” làng gốm

(Hanoinet)- Với đôi tay khéo léo, tài hoa, trí tưởng tượng phong phú và đặc biệt là tình yêu, đam mê với nghề, những người thợ gốm Bát Tràng đã góp phần tạo nên một nét “ hồn Việt “ làm say đắm lòng người muôn phương.

Gửi tình yêu vào … đất

“Nghề gốm đòi hỏi sự tâm huyết và khéo tay của người thợ. Nếu không có tình yêu, đam mê thực sự với gốm thì khó có thể tạo ra được những sản phẩm đẹp “ – anh Nguyễn Xuân Hùng, một ngưòi thợ đang làm việc tại cơ sở Gốmthủ công, mỹ nghệ truyền thống Hồn Đất Việt ( Gia Lâm – Hà Nội ) tâm sự. Anh cho biết, để có một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua các công đoạn đầy vất vả: chế đất và men; tạo hình; chồng rồi đốt lò. Chế tạo men là một trong những bí quyết của nghề gốm. Từ đời này sang đời khác, những người thợ Bát Tràng đã sáng tạo ra nhiều loại men khác nhau: từ men ngọc, men gio đến men lam, men rạn … Đất làm nguyên liệu phải đúng chất, không lẫn sang sành, sứ. Công đoạn tạo hình đòi hỏi người thợ phải có óc sáng tạo, cách nhìn nhận tinh tế và đôi tay khéo léo, tài hoa. Khi đốt lò, phải tuỳ theo xương đất để làm chủ nhiệt độ.

Sinh ra và lớn lên trên “ quê gốm “ Bát Tràng, gia đình anh Trần Văn Tuấn đã 5 đời gắn bó với nghề làm gốm. Bởi vậy mà đất cao lanh, chất men cổ và những hoạ tiết gốm tinh tế đã ăn sâu vào máu thịt chàng trai trẻ. Với Tuấn, mỗi tác phẩm ra đời chứa trong nó biết bao trăn trở của người thợ gốm. “ Xác định ý tưởng, hình khối mà mình cần thực hiện là điều hết sức cần thiết trong khâu tạo hình. Một tượng gốm phải làm sao lột tả hết thần thái của nó thông qua form dáng, hoạ tiết, đặc biệt khó nhất là đôi mắt. Để đạt được điều này, đòi hỏi rất lớn ở sự tinh tế của tâmhồn và tài năng của đôi tay người thợ “, vừa đắp nặn bộ tượng Tứ linh ( Long, Li, Quy, Phượng ), anh Tuấn vừa trò chuyện.

Hiện nay, nghề gốm Bát Tràng không chỉ thu hút con em trong làng và các vùng lân cận, mà còn kéo được nhiều người thợ trẻ từ các tỉnh xa về miền đất bên sông Hồng này “sống chết” với … gốm. Chị Thoa quê Hải phòng, đến Bát Tràng và gắn bó với nghề gốm gần 10 năm nay. Cũng có thời gian trước đây, chị quyết tâm “ dứt áo” làng gốm về đất cảng làm công nhân cho gần bố mẹ. Nhưng tình yêu với đất, với gốm Bát Tràng đã kéo chị quay lại. “ Đất tạo ra sự bền chắc cho xương thịt gốm; men tạo màu sắc sáng bóng, rực rỡ và cả huyền bí của da gốm; nước và đất tạo dáng gốm; lửa quyết định phẩm chất và sắc thái gốm “- chị Thoa nói với con mắt của một người làm nghề lâu năm. Nhưng với chị, “ quan trọng nhất vẫn là cái tâm của người làm gốm. Mỗi sản phẩm làm ra là cả tấm lòng và tâm huyết những người thợ gốm gửi gắm trong đó”.

Biến đất thành vàng

Chợ gốm Bát Tràng trở thành điểm du lịch hấp dẫn bên bờ sông Hồng. Khách du lịch trong và ngoài nước đến Bát Tràng tham quan, mua sắm ngày càng đông. Gốm Bát Tràng trở thành thương hiệu. “Hôm đầu chợ gốm mở, thấy đoàn khách du lịch Pháp trầm trồ, ngẩn ngơ trước chiếc bình cổ màu xanh ngọc, mình vui lắm. Thực ra, lúc đó còn mơ hồ về khái niệm “ thương hiệu “ lắm, chỉ biết rằng, thế là từ nay, những đứa “ con đẻ “ của bọn mình sẽ được biết đến nhiều hơn thôi”- anh Quang, một thợ gốm kể lại. Bằng bàn tay, khối óc… những người thợ trẻ Bát Tràng đã tạo nên trăm ngàn kiểu dáng, sắc màu gốm khác nhau, đưa sản phẩm gốm truyền thống vượt biên giới Việt Nam đế với bạn bè quốc tế.

Vợ chồng anh Thắng – chị Thịnh, chủ cơ sở sản xuất Hồn Đất Việt gắn với nghề làm gốm từ nhỏ. Vào thời điểm khó khăn nhất, chị Thịnh đã phải từ bỏ ước mơ làm cô giáo để cùng chồng vực dậy nghề gốm “ gia truyền “của làng cổ Bát Tràng. Hiện nay, dù đã trở thành chủ của một xưởng gốm lớn, có tổng vốn lên đến hàng tỉ đồng, anh chị vẫn xắn tay miệt mài chế đất, tạo hình bằng bàn xoay, đốt lò… như một người thợ thực sự. Với họ, nghề gốm đã trở thành máu thịt rồi.

Về Bát Tràng hôm nay, những ngôi nhà cao tầng, những cơ sở sản xuất gốm truyền thống mọc lên ngày càng nhiều hơn. Thu nhập của thợ gốm cũng cao hơn. Mức lương trung bình của họ khoảng từ 1,5 – 3,5 triệu/ tháng tuỳ theo công đoạn sản xuất và tay nghề. Dẫn chúng tôi đi xem các xưởng gốm và lớp học mĩ thuật của làng, anh Thắng tự hào: “ Gốm Bát Tràng hiện nay là sự kết hợp của truyền thống và hiện đại. Chất đất, men và hoa văn cổ vốn có của cha ông đã được người thợ phối hợp khéo léo với các yếu tố ánh sáng, màu sắc, cấp độ của mĩ thuật hiện đại một cách tinh tế “. Nhìn ánh mắt chăm chú, nắn nót từng nét hoạ tiết gốmcủa các cô bé, cậu bé làng cổ, tôi biết đó mới chính là thứ vàng ròng của đất gốm Bát Tràng.

Hàng Lược- phố “chợ hoa”

(Hanoinet)- Phố Hàng Lược nguyên là đất thôn Phủ Từ và thôn Vĩnh Trù, Tổng Hậu Phúc, huyện Thọ Xương. Từ thời nhà Lê, nơi đây tập trung nhiều nhà sản xuất lược chải đầu nên có tên phố Hàng Lược. Đến đầu thế kỷ XX, không còn ai bán lược nữa, nên phố có tên Cống Chéo – Hàng Lược (ở giữa phố có một cái cống bắc chéo qua sông Tô Lịch).

Sau ngày giải phóng Thủ đô 10/1954, phố trở lại tên cũ Hàng Lược, có chiềudài 264m, từ ngã ba Hàng Cót đến ngã năm Hàng Mã. Phố vẫn còn 2 ngôi đình: Đình Phủ Từ ở số 19 và đình Vĩnh Trù số 59, đều thờ “Tứ vị Hồng Nương”. Tương truyền, vào thời nhà Trần, bà con dân chài ở cửa bể Càn Hải (Nghệ An), vớt được 4 xác phụ nữ, đem chôn cất và lập đền thờ. Về sau dân thuyền mành xứ Nghệ ngược xuôi buôn bán trên sông biển thờ “Tứ Vị” trên thuyền để cầu yên sóng gió. Ở Hà Nội, dọc sông Tô, sông Hồng cũng có tới mười ngôi đền thờ như vậy.

Từ những năm 20 thế kỷ trước, phố Hàng Lược có một mặt hàng chỉ bán vào dịp Tết: Hàng Hoa. Bắt đầu từ 23 tháng Chạp, Tết ông Công, cho tới tận chiều tối 30 Tết, chợ Hoa họp dọc phố, có người gọi là “phố chợ hoa”.

Người Hà Nội có thói quen, dù bận trăm công nghìn việc, ngày áp Tết vẫn rủ nhau “chơi chợ hoa”. Đặc biệt là trai thanh gái lịch. Ngày nay chợ hoa Hàng Lược bán quanh năm. Đủ các loại hoa. Trên trời, dưới hoa. Hoa thật, hoa giấy, hoa lụa, hoa nhựa v.v… không thiếu. Đặc biệt là hoa tươi, mới, la liệt khắp phố. Chủ cửa hàng là các cô cậu sinh viên năng động, vừa đi học, vừa đi làm “lấy ngắn, nuôi dài”. Họ “lập nghiệp” bắt đầu từ nghề “làm đẹp cho đời”. Qua bàn tay các “nghệ nhân” trẻ, hoa được “tạo dáng” “bắt mắt” bởi sự kết hợp hài hòa giữa hoa Hà Nội, hoa Đà Lạt, hoa nhập khẩu từ Hà Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… Ngay chỗ cống chéo Hàng Lược, vài năm trở lại đây xuất hiện loại hoa… giấy nhiều mầu sắc, tạo một diện mạo mới đa dạng của chợ hoa Hàng Lược.

Phố Hàng Lược cổ mà lại mới. Hàng Lược đang tự làm mới mình để hòa nhập vào xu thế chung của thời đại. Nhà thờ Hồi giáo Ấn Độ được “tân trang” đẹp, tôn nghiêm, địa chỉ cho khách nước ngoài theo đạo Hồi đến Việt Nam công tác, học tập, du lịch làm lễ vào ngày Chúa nhật. Nhà hàng thịt chó “Cống chéo Hàng Lược” nổi tiếng từ trước, nay mang tên mới “Thịt chó gia truyền Quê Hương” khang trang hơn nhiều. Cả phố duy nhất chỉ có Trung tâm y tế quận Hoàn Kiếm là cơ quan. Còn lại là siêu thị, khách sạn, nhà hàng. Bên số chẵn, đầu phố là cửa hàng bánh ngọt Hồng Kông chẳng bao giờ vắng khách. Siêu thị NEM NEW chiếm già nửa phố, cùng Hạ Long Hotel, Hà Nội Kangaru, làm cho Hàng Lược có dáng dấp một phố hiện đại thời mở cửa.

Bà con tiểu thương phố Hàng Lược mở cả một trạm bảo dưỡng xe máy đồ sộ ở đầu phố bên dãy số lẻ, doanh thu mỗi ngày hàng trăm triệu đồng. Tuy nhiên, trên phố có người trường vốn làm ăn lớn, có người ít vốn thì buôn bán “cò con”, làm cho bức tranh thị trường ở Hàng Lược “đa sắc màu”.

Vài năm trở lại đây, nhất là ngày đông giá lạnh, phố có thêm dãy hàng bán hạt dẻ, bánh trôi Tàu, khách hàng là các cô cậu học trò, “chị lao công đêm đông quét rác”, bà con lao động… chỉ cần vài ngàn đồng cũng đủ “ấm bụng”, sau một ngày lao động, học tập vất vả.

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: