Chương trình múa rối nước Thăng Long

Theo dấu tích để lại trên các bia đá cổ, múa rối nước là loại hình văn hóa giải trí của nông dân vùng châu thổ sông Hồng, miền Bắc Việt Nam – nơi có nhiều hồ ao, sông ngòi với khí hậu nóng, ẩm. Dưới triều Lý (1010-1225) và Trần (1226-1400) múa rối nước là hình thức giải trí trong cung đình.

Các tiết mục rối nước thường dựa trên các tích truyện sân khấu cổ truyền như chèo, tuồng – thể loại rất quen thuộc với vùng thôn quê, hoặc từ các câu chuyện lịch sử, về các danh nhân lịch sử, v.v…, luôn ca ngợi đức tính cần cù lao động, lạc quan yêu đời của người nông dân, phê phán thói hư tật xấu trong xã hội. Kết thúc các trò diễn luôn là cái thiện thắng cái ác và mang lại hạnh phúc cho con người, còn cái xấu phải trả giá.

Thủy đình – đình làng nổi trên mặt nước – là sân khấu rối nước truyền thống. Ngôi đình làng cổ kính với máI ngói cong vút được lắp ghép từ những mảnh gỗ (có quét sơn chống thấm nước) và dựng trên mặt nước ao, hồ. Một tấm mành tre ngăn cách các diễn viên đứng phía sau ngập mình trong nước đến thắt lưng. Họ điều khiển bằng tay cây sào tre có gắn những con rối được nối với nhau bằng hệ thống dây kéo và bánh xe đặc biệt. Những con rối thường được làm bằng gỗ cây sung, loại cây thường mọc ven bờ ao, hồ vì gỗ sung nhẹ, dễ nổi và có khả năng chống mối mọt tốt. Bên ngoài các con rối được quét sơn chống thấm nước và làm cho chúng thêm sinh động.

Âm nhạc là phần không thể thiếu trong nghệ thuật biểu diễn rối nước. Nó không chỉ là chất kết dính giữa tiết mục này với tiết mục khác, làm cho không khí của cả chương trình biểu diễn hấp dẫn liên tục, mà dựa theo tiết tấu của nhạc, diễn viên có thể điều khiển con rối lúc dịu dàng, khoan thai, lúc mãnh liệt, sôI động với các động tác phức tạp như múa lượn, cấy lúa, cày ruộng, bơI lội, v.v… Dàn nhạc trong biểu diễn rối nước là dàn nhạc của chèo, môn nghệ thuật truyền thống đặc thù ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhạc cụ chủ yếu gồm có sáo trúc, bộ gõ, đàn tranh hoặc tam thập lục, và đàn bầu. Ngoài các nhạc công ra còn có các ca sĩ hát và múa chèo. Các bài ca, lời thoại kết hợp với các con rối đã đem đến cho khán giả những giây phút thư giãn thật ấn tượng, khó quên. Các loại pháo tép, pháo hoa, pháo dây, pháo vịt cũng được sử dụng nhằm tạo ra không khí sôi động và màu sắc lung linh, huyền ảo cho buổi diễn.

Từ hình thức giải trí dân dã vùng thôn quê, múa rối nước được gìn giữ và phổ biến ngày càng rộng rãi không những ở trong nước mà còn ở nước ngoài. Dẫu cho sân khấu múa rối nước truyền thống là ao, hồ nay có thể được thay thế bằng bể nước nhân tạo làm bằng cao su và nhựa đặc biệt, giúp cho những chuyến đi biểu diễn lưu động, âm thanh, ánh sáng hiện đại được sử dụng làm cho các tiết mục thêm phần hấp dẫn, song các tiết mục rối nước vẫn giữ nguyên được nét dân dã, thôn quê truyền thống Việt Nam như bao đời nay nó vốn có. Và cũng vì vậy mà múa rối nước luôn là môn nghệ thuật “độc nhất vô nhị” mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam, đặc biệt trong con mắt của bạn bè quốc tế, như là vị sứ giả của hòa bình.n

Bài: Lê Phượng  

Nhà hát Múa Rối Thăng Long – Hà Nội

– Thành lập ngày 10-10-1969, với tên gọi ban đầu là Ðoàn múa rối Kim Ðồng. Từ năm 1993 được mang tên chính thức là Nhà hát Múa Rối Thăng Long – Hà Nội.

– Ðã tham gia nhiều Liên hoan nghệ thuật quốc tế tại hơn 25 quốc gia ở châu á, châu Âu và châu Mỹ-Latinh, trong đó có Trung tâm Lincold (Lincold Center) và Broadway Asia (New York – Mỹ), Sydney (Australia), Athens (Hy Lạp), Nhật Bản, Hồng Kông, Mê-hi-cô, Italy, Pháp, v.v .. và mới đây là Forum 2004 – Barcelona (Tây Ban Nha), tháng 5-6/2004.<?null

Ðịa chỉ: 57B Ðinh Tiên Hoàng – Hà Nội
Ðiện thoại: (84-4) 8255450 / 8249494
Fa x: (84-4) 8245117
E-mail: Website: thanglongwaterpuppet.org
Giám đốc – Chỉ đạo nghệ thuật: Lê Văn Ngọ

Múa rối là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống có từ lâu đời của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, nó ra đời và tồn tại cùng với nền văn minh lúa nước từ thời các vua Hùng dựng nước. Song dấu ấn của nghệ thuật múa rối nước còn lại đến ngày nay mà chúng ta nhận biết được là vào đời vua Lý Nhân Tông năm 1121, trên bia Sùng Thiện Diên Linh đặt tại chùa Long Ðọi, xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Văn bia chùa Đọi có ghi nhân dân biểu diễn các trò diễn Rối nước để mừng thọ Vua.

Do điều kiện tự nhiên và công việc nông nghiệp của người dân Việt Nam gần gũi và gắn bó với nước, chính những người nông dân chân lấm tay bùn này đã sáng tạo ra nghệ thuật Rối nước. Họ thường tổ chức diễn vào những ngày việc đồng áng tạm xong, ngày xuân, những ngày mở hội. Người Pháp gọi môn nghệ thuật này với những con rối duyên dáng là “Linh hồn của đồng ruộng Việt Nam” và đánh giá: “Với sáng tạo và khám phá. Rối nước đáng được xếp vào những hình thức quan trọng nhất của Sân Khấu Múa Rối”.

Phương thức nhờ nước để con rối hoạt động, nhờ nước giấu đi bộ máy và cách điều khiển là sáng tạo tuyệt vời. Nước làm cho con rối sinh động, làm cho chúng tươi tắn. Nước đã tham gia cùng diễn với con rối như một nhận xét: “Nước cũng là một nhân vật của múa rối”. Mặt nước như êm ả với đàn vịt bơi, trở nên thơ mộng trong làn khói huyền ảo khi bầy tiên nữ giáng trần múa hát. Nhưng mặt nước cũng sôi động trong những trận chiến lửa, những con rồng vây vàng xuất hiện.

Báo Pháp viết: “Con rối được điều khiển bằng sự khéo léo khó mà tưởng tượng. Con rối như có phép thuật điều khiển”. Đấy chính là sự tài tình, là điều hấp dẫn và sáng tạo của nghệ thuật Múa rối nước.

Trước kia, rối nước chỉ diễn vào ban ngày, ở ngoài trời. Không thấy sân khấu gắn bó hòa quyện với phong cảnh thiên nhiên như rối nước. Giữa thiên nhiên thơ mộng, khán giả có cơ hội chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật trong đó có đất, nước, cây xanh, mây, gió, có lửa, có khói mờ vương toả, có cả mái đình với những hàng ngói đỏ… Thật sự là một sự hòa hợp độc đáo của nghệ thuật, thiên nhiên và con người.

Lịch sử Múa rối Việt Nam ghi nhận hai loại hình chính là Mùa rối cạn và Múa rối nước. Rối cạn gồm nhiều hình thức như: Rối tay, Rối que ở Đồng Minh (Hải Phòng), Tế Tiêu (Hà Tây), Rối dây, Mộc Thầu Hý ở Cao Bằng, Bắc Thái. Riêng Rối nước là loại hình dân gian độc đáo, chỉ có duy nhất ở Việt Nam.

Bật Cờ:
Sau những nét nhạc mở đầu, dàn cờ bật lên, tung bay như một lời chào khán giả. Đây là một kỹ thuật rất đơn giản nhưng đầy bất ngờ mở đầu của chương trình biểu diễn.

Tễu:
Tễu là người biểu diễn thông minh, khoẻ mạnh, luôn vui vẻ, hóm hỉnh. Chú là một nhân vật tưởng tượng từ thượng giới xuống gỡ những rắc rối của trần gian, của những trò rối. Tễu xuất hiện, hát giới thiệu chương trình.

Múa rồng:

Rồng là con vật thần linh có trong truyền thuyết được người dân ngưỡng mộ. Rồng là biểu tượng ở sức mạnh và quyền uy nổi tiếng ở Châu Á, mang dáng dấp cung đình, là sức mạnh vươn lên của người dân Việt Nam.
Thật là kì diệu và ngạc nhiên khi con rồng từ dưới nước hiện lên, lúc phun lửa, khi phun nước. Nó bơi lượn: uyển chuyển và mạnh mẽ, hai sự mâu thuẫn được kết hợp hài hoà như lửa và nước cùng tồn tại vậy.
Lân tranh cầu:
Hai con lân dành nhau quả bóng màu. Cuộc chiến đôi khi quyết liệt nhưng vui vẻ như một cuộc trình diễn tuyệt diệu, tràn ngập màu sắc trong tiết tấu âm nhạc đầy cuốn hút. Với kỹ thuật sử dụng sự tác động của nước là chính, hai con lân vờn cầu, ngụp lặn linh hoạt thật khó tưởng tượng nó có thể làm được gì hơn thế.

Múa phượng:
Đôi phượng bơi trong cảnh thanh bình, hạnh phúc trên nền nhạc dân tộc, giai điệu trữ tình. Nó tượng trưng cho sự vĩnh hằng của tình yêu đôi lứa, tượng trưng cho sự cao sang bay bổng, lãng mạn, duyên dáng và tinh tế. Lời ca đẹp đẽ, giọng hát mượt mà đưa người xem đến với những tưởng tượng về tình yêu thuở hoang sơ…
Nông nghiệp:
Cảnh những người nông dân đang làm việc trên cánh đồng. Họ làm việc rất cần mẫn, khẩn trương nhưng vui vẻ, vừa làm vừa hát đối với nhau. Nơi này những người đàn ông đang cày bừa, nơi kia những cô gái đang cấy mạ. Hàng lúa từ từ mọc lên như sự hứa hẹn của mùa sau. Còn có những người xay thóc, giã gạo…Rồi lại thấy một anh chàng câu ếch rất tài tình. Kỹ thuật câu được thực hiện ngay (không cần che dấu), trước mắt khán giả, gây được sự bất ngờ thú vị.
Múa sư tử:
Đây là điệu múa truyền thống trong ngày Tết Trung Thu hàng năm của người Việt Nam đón trăng tròn. Điệu múa hiện ra dưới nước tràn ngập ánh trăng rằm tháng tám. Một sinh hoạt văn hóa lâu đời còn tồn tại cho đến nay, mang bản sắc độc đáo của người Việt.
Đánh cáo bắt vịt:

Hai ông bà chăn vịt, cảnh chăn nuôi gia cầm thanh bình của người nông dân. Nhưng bất chợt một con cáo gian ngoan xuất hiện và rình bắt trộm. Đây là một kỹ thuật hay của trò rối nước: Con cáo bơi đuổi vịt, lúc chui vào bụi cây rồi lại leo nhanh lên cây… cho đến khi nó vồ được con vịt, tha từ dưới nước lên cây. Rất bất ngờ và ngạc nhiên. Tiết mục kích thích sự tò mò và thắc mắc của khán giả như một sự thách đố lý giải.
 Đua thuyền:

Một trò chơi mang tính truyền thống ở địa phương gần vùng sông nước. Hàng năm, người nông dân thường tổ chức đua thuyền trong những ngày hội được mùa hoặc những ngày lễ, ngày tết. Những chiếc thuyền đua hối hả, sôi động trên nền nhạc dân ca quen thuộc, nổi tiếng, mô phỏng rất hay nhịp chèo thuyền.
Đánh cá:
Những con cá bơi rất linh hoạt mềm mại trong nước. Những người nghệ sĩ tạo hình đã sáng tạo ra được những con cá có cơ cấu chuyển động tinh tế và sinh động. Vợ chồng câu cá ngồi trên chiếc thuyền bé. Người bạn của họ đang xúc tép hoặc kéo vó. Một anh chàng úp nơm tinh nghịch chòng ghẹo cô gái.. Ta thấy một nhịp sống sôi động, vui tươi hạnh phúc của những người dân miền sông nước.
Dàn nhạc dân tộc:
Dàn nhạc dân tộc gồm những nhạc cụ truyền thống của Việt Nam đã có từ hàng nghìn năm nay. Với những âm sắc độc đáo, phong phú được minh hoạ tài tình qua những động tác nghộ nghĩnh khéo léo của con rối.
Nhi đồng hí thuỷ:
Đùa nhau, nghịch và bơi lội dưới ao làng là thứ trò chơi được yêu thích của trẻ nhỏ. Chúng chơi đùa rất hồn nhiên và thích thú với những động tác rất giỏi giang, thành thục, mạnh mẽ và vui ngộ như chính chúng được sinh ra từ nước và là chủ nhân của sông nước.
Chọi Trâu:
Hai con trâu trắng và đen xuất hiện. Chúng húc nhau như một trận chiến ác liệt. Một con bị thua và bỏ chạy. Cuộc chiến tượng trưng cho sự thắng bại của người chủ chăn trâu trong thôn xóm. Ngày nay, hội chọi trâu vẫn được duy trì ở một số địa phương và được tổ chức rất long trọng kèm theo những giải thưởng lớn.
Lam Sơn Tụ Nghĩa:
Những người anh hùng tụ họp trên núi Lam Sơn, góp sức cho cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của dân tộc. Khi đất nước đã thanh bình, nhà vua trả lại gươm báu cho thần Kim Quy (Rùa Vàng). Đây là một truyền thuyết nổi tiếng về Hồ Hoàn Kiếm, mặt hồ nước đẹp, thơ mộng giữa thủ đô Hà Nội – Việt Nam. Hãy chú ý kỹ thuật con rùa há mồm đón kiếm thần từ tay vua.
Múa bát tiên:
Tây Vương Mẫu đã dạy các nàng tiên điệu múa trong cung đình, nơi chỉ có niềm vui và hạnh phúc. Bằng kỹ thuật sử dụng puly, dây kéo đã tạo ra những động tác múa rất đều, đẹp và duyên dáng.
Múa tứ linh:
Con rồng huyền thoại múa lượn và phun lửa, nước tạo nên những màu sắc rực rỡ kỳ ảo. Trong khi đó con nghê múa theo điệu trống. Phượng nghiêng mình xoè đôi cánh say sưa lướt cùng với rùa trên mặt nước. Cuối cùng tất cả đều biến mất. Đây là cuộc quần vũ của bốn con vật qúy trong truyền thuyết và biểu tượng linh thiêng trong các đền chùa Việt Nam.

Múa rối nước Việt Nam, một di sản văn hoá độc đáo

Múa rối nước là một sáng tạo văn hoá độc đáo của cư dân trồng lúa nước vùng châu thổ Sông Hồng. Ngày chào đời của di sản văn hoá truyền thống dân tộc lâu đời này còn nằm trong huyền sử. Nhưng ít nhất bia đá Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi (Hà Nam) cũng ghi lại cho chúng ta biết năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 đời vua Lý Thần Tông (1072- 1128), trò rối nước đã có mặt trên Sông Hồng trước điện báu Linh Quang.

Lần theo truyền thuyết mà phán đoán có thể con “rồng bay” trên thuyền vua Lý Thái Tổ cập bến Sông Hồng khi rời Kinh Đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra nơi “rồng chầu, hổ phục” để bốn phương sum họp năm 1010 đã gợi ta nhớ đến “Thiên Sứ Rùa Vàng” đã giúp An Dương Vương xây dựng thành ốc và trở lại nhận thanh gươm vua Lê Thái Tổ trao trả trên hồ Lục Thuỷ. Ngày nay cả hai vẫn còn chưa thoả sức vẫy vùng trong mọi buổi trình diễn Rối Nước dân gian chuyên nghiệp, cùng với con Lân, con Phượng trên sân khấu trong và ngoài nước.

Dùng nước làm sân khấu cho quân rối hoạt động là một đặc điểm độc đáo của nghệ thuật Rối Nước. Nước không chỉ là nơi nhân vật làm trò, đóng kịch mà còn là yếu tố cộng sinh, cộng hưởng, cộng minh. Nước vừa cản trở, vừa hỗ trợ, phối hợp. Trên “chiếc gương lỏng” này, những gì là khô cứng, nghèo nàn đều trở nên lung linh, mềm mại, uyển chuyển, duyên dáng, phong phú, biến hoá, kỳ ảo. Nước giấu trong lòng mọi bí ẩn của trò rối. Nhân vật thoắt ẩn, thoắt hiện cùng với con bóng của mình điệp trùng trên sóng nước. Những tiếng trống, tiếng pháo “chói tai”, âm vang qua nước và khoảng không thoáng rộng cũng trở nên dịu dàng, dễ nghe hơn.

Múa Rối Nước là nghệ thuật của hội hè làng xóm, là sáng tạo bí truyền của từng phường, từng hội, từng nghệ nhân – chứa đựng và lưu giữ nhiều hoạt động xã hội, nhiều truyền thống dân gian, nhiều kỹ thuật nhân dân thô sơ, nhiều nghệ thuật và sinh hoạt tinh thần vật chất của nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Sân khấu múa rối nước trình bày những cảnh đời thường ngày, những sinh hoạt dung dị đến ngạc nhiên. Nó cắt nghĩa rõ ràng khả năng và tài năng của một dân tộc sinh sống bằng nghề trồng cây lúa nước. Này đây: cha cầy, mẹ cấy, em bé chăn trâu, anh chị quăng chài, chăn vịt, thả cá, cả làng vui hội vui hè, đấu vật, rước thánh, rước thần, hát chèo, hát tuồng, đánh đu, đua thuyền, thi bơi, múa lân, múa rồng, múa tiên, đua ngựa, đấu kiếm… tính hoành tráng, vĩ đại của dân tộc, của lịch sử đất nước như được thu gọn trong sân khấu nhỏ bé này.

Người sáng tạo và duy trì nghệ thuật múa rối nước từ hàng nghìn năm nay là người làm ruộng, sống với nước từ khi còn trong bụng mẹ, gắn bó với nước chặt chẽ, ân tình “sống ngâm da, chết ngâm xương”. Ngâm bùn lội nước là cuộc sống thường ngày. Biểu diễn rối nước với họ là niềm thích thú được tham gia sáng tạo. Nghệ nhân rối nước đều là người đứng tuối, đã lăn lộn với đồng nước, với con trâu cái cầy. Trò rối nước vốn không xuất phát từ nghệ thuật ngôn từ nên lời ca giọng hát chỉ làm phụ trợ. Việc làm rối nước chỉ là chơi “trò văn nghệ” lý tưởng say mê và tự hào của họ.

Múa rối nước là một sinh hoạt vǎn hoá xóm làng, được bà con trân trọng, quí mến, nuôi dưỡng, giữ gìn và phát triển. Họ luôn dành cho các hoạt động của phường mọi sự giúp đỡ, từ nắm lạt, sợi thừng, cây tre, tấm ván, lá cót, mảnh phên… để dựng buồng trò, đến cây sung tạc quân, cái sào điều khiển, chiếc thúng chuyên chở… khi biểu diễn. Ngoài ra, tuỳ theo khả năng những người có chữ nghĩa, có tay nghề thủ công… còn tham gia vào sáng tác lời giáo, chế tác quân máy, quyên góp tiền bạc, mua sắm trang thiết bị… do đó có phường số thành viên đông tới bảy tám chục người trong khi lượng người biểu diễn cần thiết thường chỉ đến hai chục người là tối đa.

Làng xóm đều tự hào vì có phường hội rối nước nên xưa tên phường đều mang tên nôm na của làng xóm như: phường Tăng, phường Tuộc, phường Nguyễn, phường Đống (Thái Bình), phường Rạch (Nam Định), phường Bò (Hải Dương)… phường Tây trong (xóm), Tây ngoài (xóm), Bắc Lạng (xóm) thuộc làng Nguyễn, huyện Tiên Hưng… Dân làng cũng dành cho phường hội rối nước nơi ǎn chốn ngồi trong đám thứ nơi đình trung như các phường hội khác. Ta còn nghe câu phương ngôn xưa của vùng chiêm trũng huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây: “Mõ Miêng, chiêng Khê, trống Già Cầu, lệnh Cửa ải, trải Neo, chèo Bối, rối Lường” để lưu truyền về những nhạc cụ, trò đua, trò diễn có tiếng trong vùng.

Trong hơn 20 năm qua, những chú Tễu trong rối nước Việt Nam đã trở nên quen thuộc như là sứ giả nghệ thuật của chúng ta đến với bè bạn trên thế giới. Múa rối nước Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á. Từ chỗ phải vận dụng các mối quan hệ để có hợp đồng diễn với nước ngoài, đến nay rối nước đã tự mình đứng vững, để lại ấn tượng tốt cho khán giả nước ngoài. Việc biểu diễn ở xứ người đã trở thành hoạt động thường niên được phía nước ngoài chủ động mời kí hợp đồng. Rối nước Việt Nam cũng được mời tham gia các Festival múa rối quốc tế như một thành viên chính thức.

Chỉ tính riêng năm 2001, Nhà hát Múa rối T.Ư đã biểu diễn thành công trên 400 buổi tại nhiều nước. Có những đợt diễn do yêu cầu của khán giả, các đoàn rối Việt Nam đã phải tăng show diễn lên gấp 3 lần, với nhiều điểm diễn cách nhau đến cả trăm km. Sau Nhà hát Múa rối T.Ư là Đoàn múa rối Thăng Long (HN). Bên cạnh các show diễn thường xuyên trong nước cho khách nước ngoài, đoàn cũng có hàng trǎm show diễn trên đất khách.

Được biết, tháng 3/2002 vừa qua, ông Trần Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ VHTT đã kí công văn gửi UNESCO thông qua hội nghị của các chuyên gia văn hoá châu Á – Thái Bình Dương đề nghị công nhận múa rối nước Việt Nam là di sản vǎn hoá phi vật thể năm 2002 (trên thế giới hiện có 32 di sản văn hoá phi vật thể được công nhận). Việc đề nghị UNESCO công nhận múa rối nước là di sản văn hóa phi vật thể là hoàn toàn xứng đáng. Song, cũng từ đây lại có những điều bất cập đáng suy nghĩ.

Là một di sản văn hoá Việt Nam được bạn bè quốc tế biết đến, tuy nhiên, rối nước Việt Nam chưa được quan tâm thực sự. Rất ít thiếu nhi Việt Nam biết rối nước là gì, người lớn thì không mấy quan tâm, nhất là những người sống ở thành phố, còn ở vùng sâu vùng xa… đương nhiên là người dân rất xa lạ với múa rối, chứ đừng nói đến rối nước. Số em từng được xem biểu diễn rối nước không nhiều. Một số người băn khoăn, liệu có phải bao nhiêu công sức thời gian các nghệ sĩ đều đầu tư cho việc hướng ngoại cả ? Ngay ở Hà Nội, các show diễn của Nhà hát Múa rối T.Ư cũng rất thưa thớt. Hàng năm, chỉ có đợt 1/6 và Trung thu nhà hát mới tổ chức các show diễn cho thiếu nhi.

Thiết nghĩ, để một loại hình nghệ thuật trở thành “đặc sản” văn hoá của nước mình thì trước hết cần gây dựng, gìn giữ nó trong lòng người Việt Nam trước đã. Làm sao để ở các trường học trẻ em hiểu và yêu nghệ thuật rối nước, được xem biểu diễn, được giao lưu với các nghệ sĩ biểu diễn. Sức sống bền vững nhất của bất cứ loại hình văn hóa nào cũng phải được xây dựng từ chính cái nôi sinh thành ra nó. Hơn nữa, niện múa rối nước vẫn tồn tại phân tán trong các phường hội dân gian. Việc khai thác nâng cao sử dụng một số trò để phục vụ giao lưu với nước ngoài và phục vụ nhân dân trong nước gần 20 năm qua tưởng đã đủ cơ sở để tổ chức, khai thác, bảo tồn, phát huy và phát triển nó một cách khoa học, nghiêm túc và kịp thời.

 

Mở màn(ensou) bằng các nhạc cụ dân tộc

  1. kéo cờ hội
  2. người kể chuyện (hanashite)
  3. 4 con rồng phun lửa
  4. Trẻ con chăn trâu thổi sáo.
  5. Công việc đồng áng
  6. Bắt ếch.
  7. Bắt vịt
  8. Câu cá
  9. Được mùa
  10. múa sư tử
  11. múa Phượng
  12. Truyền thuyết vua Lê và hồ Hoàn kiếm
  13. Vầy nước
  14. Đua thuyền
  15. Múa lân
  16. Múa tiên

Rồng, Lân, Phượng, Rùa cùng múa(kyouen)

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 20:50 24/01/2006 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: