Tiềm năng Hạ Long phần 5

Chuyên đề V.

Cảng tàu du lịch – núi Bài Thơ – Khu vực Cống Đỏ, vạn Giò – đảo cống đông, cống tây (xã th`ắng lợi) – đảo Ngọc Vừng – đảo quan lạn – khu vực Thương cảng Vân Đồn – hang Soi Nhụ – hang Quan.

A. Nội dung hướng dẫn

1. Núi Bài Thơ (1)

– Vị trí, nguồn gốc tên gọi

+ Núi Bài Thơ cao gần 200m, đứng giữa trung tâm thành phố Hạ Long, nằm bên bờ Vịnh Hạ Long xinh đẹp.

+ Nằm ở vị trí trọng yếu trên trục đường giao thông huyết mạch cả đường bộ và thủy. Ngay từ xưa, các triều đại phong kiến đã đặt trên núi một trạm đồn trú. Những người lính ở đây có nhiệm vụ đêm đêm treo ngọn đèn lồng trên đỉnh núi báo hiệu sự bình yên. Nhưng khi có biến, người lính đốt đống lửa to bằng phân chó sói với củi khô để báo tin, núi có tên là Dọi Đèn từ đó (tên chữ là Truyền Đăng) . Mùa xuân, tháng 2, năm Quang Thuận thứ 9 (1468), vua Lê Thánh Tông (2) trong một lần tuần du tới vùng Đông Bắc đã ứng tác bài thơ và cho đề vào vách núi. Từ đó người dân quanh vùng quen gọi tên núi là Đề Thơ, sau được gọi là núi Bài Thơ.

+ Bài thơ của vua Lê Thánh Tông khẳng định bờ cõi nước Việt là bất khả xâm phạm, đó là chân lý đã được khẳng định và một giai đoạn mới của đất nước bắt đầu bằng việc xây dựng củng cố kinh tế, mở mang dân trí, ngưng việc binh đao. (3) Ngày nay, bài thơ còn là chứng tích lịch sử văn hoá của dân tộc, nâng hình ảnh núi Bài Thơ thành biểu tượng văn hoá tự hào của thành phố Hạ Long.

+ 261 năm sau, chúa Trịnh Cương nhân một chuyến tuần du tới An Bang, sau khi đọc bài thơ của vua Lê Thánh Tông đã cảm kích và họa lại trên vách đá những lời tha thiết: (4)

+ Ngoài hai bài thơ của vua Lê Thánh Tông và chúa Trịnh Cương còn có 9 bài thơ khác, ngoài 2 bài đã dịch ở trên còn 7 bài nữa đề ở Bài Thơ thời kỳ Bảo Đại khoảng những năm 1940. Đó là các bài thơ của Nguyễn Cẩn (quan phủ Quảng Yên, từng đỗ cử nhân thời Tự Đức năm Kỷ mão 1879)…

– Các sự kiện lịch sử có liên quan tới núi Bài Thơ.

+ Thời Lý,Trần, Lê… núi Bài Thơ nằm ở trung tâm các đầu mối giao thông quan trọng của thương cảng Vân Đồn và cửa Lục. Những người lính trên đỉnh Dọi Đèn ngày ấy có nhiệm vụ kiểm soát từng con thuyền vào ra.

+ Ngày 1/5/1930, lần đầu tiên lá cờ đỏ búa liềm phấp phới bay trên núi Bài Thơ, báo hiệu giai đoạn đấu tranh mới của giai cấp công nhân vùng mỏ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam.).

+ Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trận địa pháo 12,7 ly của quân dân tự vệ phường Bạch Đằng đặt trên núi Bài Thơ đã tham gia chiến đấu suốt thời kỳ giặc Mỹ gây ra cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc.

+ Tại các hang ở sườn phía Đông bắc núi Bài Thơ, trong những năm 1964 – 1975, Trung tâm điện chính Bưu điện Quảng Ninh đã sơ tán nhà cơ vụ và một trạm Viba để phát sóng truyền đi những thông tin quan trọng, góp phần tích cực đánh trả máy bay Mỹ, bảo vệ vùng trời khu mỏ.

– Chùa Long Tiên

+ Nằm ở phía Bắc chân núi Bài Thơ. Chùa chính thức được hoàn thành vào ngày 11/6/1941 .

+ Trước khi xây dựng chùa, ở chân núi Bài Thơ đã có một am Thiền Thạch Động hay am thiền Long Tiên, phía bên phải là hang Chín Cô, bên trái thờ Trần triều. Chùa Long Tiên là ngôi chùa lớn nhất thành phố, mang giá trị kiến trúc đặc sắc thời Nguyễn được xây dựng đầu thế kỷ 20. Chùa thờ phật và các tướng nhà Trần có công giữ nước.

– Đền Đức Ông Trần Quốc Nghiễn

+ Nằm ở phía Tây núi Bài Thơ, thờ con trai cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là Trần Quốc Nghiễn. Đền được trùng tu lại năm 1913, vẫn còn tấm văn bia có ghi: “… xét thấy nơi đây (núi Bài Thơ) sơn thuỷ hữu tình, đền đài tráng lệ quả là nơi linh thiêng. ..Vội họp các bạn thuyền cùng đồng tâm hiệp lực xây lại ngôi đền cổ, để phụng thờ được lâu dài…”

+ Đền hình chữ đinh (j), quay hướng Nam , gồm ba gian bái đường và một gian hậu cung, được xây dựng trên nền đất cao. Hội đền được tổ chức hàng năm, vào 24 tháng 3 âm lịch hàng năm.

+ Chùa Long Tiên và đền Đức Ông mang những giá trị tâm linh hướng thiện rất đáng trân trọng của người dân làm tăng thêm giá trị của núi Bài Thơ. Ngoài vẻ đẹp nổi bật, núi Bài Thơ còn có giá trị lịch sử văn hoá sâu sắc gắn liền với sự phát triển của vùng đất này. Cùng với vị trí đắc địa như vậy, núi Bài Thơ là một điểm du lịch hết sức hấp dẫn đang dần được tôn tạo và khai thác để phục vụ tham quan du lịch của thành phố. Trên cơ sở giữ nguyên môi trường cảnh quan sinh thái, đảm bảo giá trị toàn vẹn của núi Bài Thơ: một di tích lịch sử văn hoá gắn liền với ngọn núi. Trong tương lai, tuyến tham quan du lịch núi Bài Thơ sẽ được tổ chức để du khách vừa có dịp chứng kiến những di tích lịch sử văn hoá vừa chiêm ngưỡng toàn cảnh Vịnh Hạ Long.

2. Khu vực Cống Đỏ – Vạn Giò

– Vị trí

+ Khu vực đảo Cống Đỏ; Vạn Giò nằm ở phía Tây Vịnh Hạ Long, trong vùng bảo vệ tuyệt đối của khu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. được xác định trong tọa độ 107 0 11′ 39 ” độ vĩ Bắc và 21 0 52 ‘ 42” độ kinh Đông; Vạn Giò được xác định bởi 107 0 16 ‘ 48 ” độ vĩ Bắc 20 0 50 ‘ 33 ” độ kinh Đông.

– Các giá trị và tiềm năng.

+ Nằm cách xa các khu dân cư, các trung tâm du lịch, do vậy, nơi đây còn giữ được gần như nguyên vẹn các nét đẹp hoang sơ mà thiên nhiên đã ban tặng, với những đảo đá liền kề nhau, mỗi hòn một vẻ tạo nên một bức tường thành vững chãi giữa biển khơi. Đến đây, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước những gì mà thiên nhiên dày công gọt giũa, sắp đặt: một hòn Lò Ngói (hòn Xếp) với dáng hình một con quỷ đang ngồi bó gối trầm tư, một hòn Thiên Nga đang tung tăng bơi lội + Cống Đỏ, Vạn Giò là nơi có một môi trường trong sạch, phù hợp cho nhiều loài động thực vật sinh sống. Qua nghiên cứu của các tổ chức IUCN, FFI và Phân viện Hải dương học Hải Phòng… thì nơi đây là điểm phát hiện nhiều loài động thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long và được đánh giá cao về tính đa dạng sinh học.

+ Khu vực này có tới 97 trên tổng số 170 loài tìm thấy ở vịnh Hạ Long và độ phủ san hô ở đây lên tới 43,4% (2) . San hô là động vật điển hình cho vùng biển nhiệt đới, sự xuất hiện của san hô cũng chính là nét đặc trưng rất hấp dẫn của nơi đây, nó có giá trị to lớn về nguồn gen, giảm lực sóng và là nơi cư trú cho rất nhiều loài động thực vật khác….

+ Đây cũng là điểm được người Việt cổ chọn làm nơi cư trú sinh sống trên các hang đảo. Tại hòn Xác Khô, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy mảng lớn những vỏ ốc đã bị hóa thạch, kết tầng, khối lượng lên tới hàng chục m 3 . Các nhà khoa học cho rằng di chỉ khảo cổ này thuộc về Văn hóa Soi Nhụ – có niên đại cách ngày nay từ 25.000 đến 7.000 năm.

+ Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, khu vực này được chọn làm nơi trú ẩn của nghĩa quân Đề Hồng, Cai Thái. Tại đây có hang Đúc Tiền hiện vẫn còn dấu vết việc đúc đồng chế tạo vũ khí, quân trang, quân dụng của nghĩa quân.

+ Có thể coi khu vực Cống Đỏ, Vạn Giò là một Vịnh Hạ Long thu nhỏ với tất cả các giá trị tiêu biểu của Vịnh Hạ Long như: giá trị thẩm mỹ; địa chất; đa dạng sinh học; và văn hóa khảo cổ.

+ Trong tương lai không xa, khu vực này sẽ được đầu tư, xây dựng phát triển thành khu du lịch sinh thái. Du khách sẽ được lặn biển hoặc đi thuyền ngắm san hô dưới biển và tham quan hang động tắm biển và leo núi…

3. Đảo Cống Đông, Cống Tây.

* Vị trí, tên gọi

+ Nằm ở phía Đông Vịnh Hạ Long, đảo Cống Tây được xác định bởi 107 0 18′ 06″kinh độ Đông 20 0 53′ 38″ vĩ độ Bắc, đảo Cống Đông được xác định bởi 107 0 18′ 35″ kinh độ đông và 21 0 54′ 00″vĩ độ Bắc. Cách trung tâm thành phố Hạ Long chừng 25km cách thị xã Cẩm Phả chừng12km. Cả hai đảo có tổng diện tích chừng 4.74 km 2 . Hiện tại, nơi đây thuộc sự quản lý hành chính của xã Thắng Lợi, với số dân hơn 1000 người.

+ Trước kia, nơi đây được biết đến với tên Cống Đông thập bát xã thuộc châu Vân Đồn. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) nhà Nguyễn bỏ Châu Vân Đồn, đặt thành Tổng Vân Hải thuộc huyện Nghiêu Phong, huyện này chính là huyện Hoa Phong xưa.

– Biểu tượng Di sản Thiên nhiên thế giới

+ Qua Cống Đông, Cống Tây, ngay bên trái đường đi là hòn Cây Sinh Đông – nơi đặt biểu tượng Di sản thiên nhiên thế Giới. Đây là một trong ba điểm trên Vịnh Hạ Long được đặt biểu tượng này để làm cột mốc giới hạn khu vực bảo vệ tuyệt đối đã được UNESCO công nhận.

* Các di tích thuộc hệ thống thương cảng Vân Đồn.

– Hai đảo Cống Đông, Công Tây xưa kia là một trong những điểm đỗ chính của hệ thống thương cảng Vân Đồn. Suốt chiều dọc của đảo Cống Đông dài tới 05km là một hệ thống bến thuyền cổ dài nhất trong tất cả những bến đã phát hiện với 07 bến ở 07 vụng ăn sâu vào chân đảo, số lượng mảnh gốm (dấu tích hàng hoá trao đổi buôn bán) ở đây cũng thuộc loại nhiều và phong phú nhất. Ngoài ra, nơi đây cũng có một loạt các công trình kiến trúc tôn giáo để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân và các khách buôn như ngọn bảo tháp, chùa Trong, chùa vụng Cây Quéo, chùa Cát…. Đặc biệt là chùa Lấm, nằm ở vụng biển phía Tây – Nam của đảo Thừa Cống (vụng biển này còn được nhân dân gọi là vụng Chùa Lấm). Chùa nay chỉ còn là phế tích. Năm 1971, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Ty Văn hóa Quảng Ninh tìm ra và khai quật, làm rõ quy mô, vị trí của chùa. Cụ thể:

+ Chùa nằm ở thế tay ngai, ba phía được bao bọc bởi núi, cửa chùa quay hướng chính Nam nhìn ra biển. Cả khu chùa nằm trên một lũng núi, vừa kín đáo nhưng rất uy nghi. Trên một độ cao hàng chục mét so với mực nước biển, các thuyền buôn, thuyền của các phật tử đến hành lễ, vãn cảnh … từ rất xa cũng vẫn có thể nhìn thấy khu chùa.

+ Chùa được xây dựng vào thời Trần, gồm nhiều công trình kiến trúc, Tam quan, nhà Tổ, chùa Hộ, qua con đường chính là chùa Phật – nơi quan trọng nhất của cả khu chùa. Chùa Lấm xưa là một ngôi chùa lớn, được xây dựng quy mô bề thế giữa vùng hải đảo. Trên đất Quảng Ninh, ngoài Quỳnh Lâm, Yên Tử thì không ngôi chùa nào sánh được với chùa Lấm. Điều đó càng chứng minh vào thời Trần ở đây, ngoài việc phát triển thương cảng Vân Đồn có sự phát triển mạnh mẽ về hoạt động tín ngưỡng tôn giáo.

* Các tiềm năng phát triển.

– Do có được một môi trường trong sạch, độ che phủ của rừng còn cao, lại được bao quanh bởi biển lại có hàng loạt những di tích lịch sử quan trọng thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Đồn. Vì vậy trong tương lai có thể xây dựng ở đây các điểm du lịch sinh thái văn hoá, các khu nhà nghỉ đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách.

4. Khu vực Thương cảng Vân Đồn.

a. Vị trí và tầm quan trọng của khu vực thương cảng Vân Đồn.

– Thương cảng Vân Đồn xưa, nằm ở huyện Vân Đồn, phía Đông Nam tỉnh Quảng Ninh, diện tích 584km 2 . Thương cảng Vân Đồn không chỉ là một bến cảng mà là một hệ thống các bến thuyền thương mại nằm trong vùng vịnh Bái Tử Long

– Khu vực thương cảng Vân Đồn có vị thế quan trọng, án ngữ, kiểm soát con đường biển thuận lợi qua sông Bạch Đằng vào kinh thành Thăng Long.

– Nằm trên trục đường biển Quốc tế – trung tâm giao lưu buôn bán nhộn nhịp của các quốc gia vùng Nam; Đông á; Trung Đông với Trung Quốc, đã từng được coi là “con đường tơ lụa trên biển” nối liền từ Nhật Bản xuống đến các nước Đông á và Đông Nam á.

– Khu vực biển đảo Vân Đồn từ xưa đã nổi tiếng là nơi có nhiều sản vật quý trong đó được biết đến nhiều là ngọc trai, đó là một thứ trang sức đẹp, lại là một loại thuốc quý. Viết về vùng này, sử gia triều Nguyễn là Phan Huy Chú có chép rằng: “Phong thổ và nhân vật đông đúc, giàu thịnh, việc buôn bán lưu thông tấp nập; cũng là chỗ phồn hoa ở trấn ngoài mà thật là nơi hình thắng ở nước Nam .”

b. Quá trình hình thành phát triển của thương cảng Vân Đồn.

– Với một vị trí quan trọng và có nhiều thuận lợi như vậy, ngay từ những năm 792, 1009, 1012 thuyền buôn các nước đã qua lại. (Đại Việt sử ký toàn thư). Đến năm 1149, dưới triều vua Lý Anh Tông, Thương cảng Vân Đồn mới chính thức được thành lập và hoạt động cho đến tận những năm cuối của thế kỉ XVII. Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép: “ Đại Định, năm thứ 10 (1149). Mùa xuân tháng 2, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa, dâng tiến sản vật địa phương.

– Ban đầu thương cảng Vân Đồn giao lưu buôn bán với các nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La, Tam Phật Tề, sau đó mở rộng buôn bán với các nước Trung Quốc, Nhật Bản và vùng Trung á.

– Đến thời Trần, trong giai đoạn đầu, nhịp độ buôn bán của Thương cảng vẫn phát triển. Ngoài việc buôn bán, các vua Trần còn cho xây dựng nhiều chùa tháp với quy mô to lớn không kém trong đất liền như chùa Lấm, chùa Trong, chùa Cát, chùa Vụng Cây quéo, Chùa Vụng Chuồng bò, Bảo tháp ở Cống Đông, chùa Tháp ở Đượng Hạc, hòn Dáu, huyện Yên Hưng… để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng cho nhân dân sinh sống tại đây và các khách buôn nước ngoài sùng đạo Phật. Đến nửa cuối thế kỉ XIII do phải kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông nhà Trần đã có chính sách hạn chế ngoại thương tăng cường tiềm lưc quốc phòng, do vậy việc phát triển giao lưu hàng hoá tại thương cảng Vân Đồn bị hạn chế một phần.

– Đến thời Lê, vua Lê đã thi hành chính sách phong tỏa khắt khe đối với ngoại thương mà đặc biệt là các hoạt động buôn bán tư thương. Do vậy, thời kì này hoạt động thương mại ở Vân Đồn đã sút kém hơn nhiều so với thời Lý – Trần, tuy nhiên thương cảng Vân Đồn vẫn chiếm vị trí quan trọng nhất định trong hệ thống các cảng thương mại Việt Nam thời đó.

– Đến đầu thế kỉ XVI, Thương cảng Vân Đồn lại được hưng thịnh với chính sách mở về thưong mại của nhà Mạc. Gốm sành Việt Nam là mặt hàng đuợc ưa chuộng trên thị trường gốm thời kì này, nên các lò sành trong đất liền đã ồ ạt mang hàng ra Vân Đồn để xuất khẩu. Để thuận lợi trong việc trao đổi buôn bán, một số lò gốm còn được xây dựng ngay tại các vùng ven biển để giảm giá thành vận chuyển như lò ở Đượng Hạc – hòn Dáu (Yên Hưng), Vạn Ninh – Hải Tiến (Móng Cái)…

– Đến thời Hậu Lê, các hoạt động buôn bán ở Vân Đồn vẫn được phát triển. Ngoài việc buôn bán, nhà Lê còn quan tâm xây dựng các công trình kiến trúc để làm nơi sinh hoạt chính trị, kinh tế văn hóa cho cộng đồng như đình ở Cái Làng, Cống Cái…

– Khoảng cuối thế kỉ XVII, các trung tâm thương mại, thương cảng lớn như Kẻ Chợ (Thăng Long), Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam) bắt đầu mở cửa cho các thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Pháp… được vào sâu nội địa buôn bán đã dần làm mất vị thế của Thương cảng Vân Đồn.

– Đến thời Nguyễn, Thương cảng Vân Đồn đã mất hẳn vai trò hoạt động thương mại. Cư dân trên các bến cổ di chuyển đi nơi khác, kho tàng bến bãi bị phá bỏ… hệ thống các bến thuyền cổ chuyển sang phục vụ nhu cầu làm bến đỗ cho các thuyền đánh cá, trao đổi lâm hải sản của nhân dân địa phương.

c. Vai trò của thương cảng Vân Đồn .

– Đối với việc giao lưu kinh tế thời kì phong kiến.

+ Trong suốt quá trình lịch sử, mặc dù các triều đại phong kiến Việt Nam luôn nhất quán một quan điểm “Bế quan tỏa cảng ” và phát triển nền kinh tế theo trật tự “sĩ nông công thương” , song sự ra đời và phát triển của thương cảng Vân Đồn đã cho thấy ngay từ thời kì nhà Lý (thế kỉ XII ) việc buôn bán trao đổi giao lưu kinh tế hàng hoá đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ.

+ Thương cảng Vân đồn ra đời đã thực sự là một bước ngoặt quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam thời kì phong kiến. Trước đó như đã biết kinh tế nước ta chủ yếu là tự cấp tự túc, hàng hóa sản xuất ra phần lớn là đáp ứng nhu cầu trong phạm vi làng xã. Khi thương cảng Vân Đồn được mở ra, hàng hóa lưu thông, trao đổi buôn bán với các nước trong khu vực, vượt ra khỏi phạm vi làng xã, nhận thức về công thương của nguời dân thay đổi, đã góp phần làm kinh tế phát triển, nhân dân thêm phần ấm no.

– Đối với việc phát triển và giao lưu văn hóa khu vực.

+ Trong suốt gần 600 năm tồn tại của mình, bên cạnh vai trò giao thương buôn bán phát triển kinh tế xã hội Vân Đồn còn là là cửa ngõ giao lưu quan trọng gữa hai vùng văn minh Đông á và Đông Nam á. Tại đây những giá trị cơ bản của nền văn minh Đại Việt mang đậm chất Đông Nam á đã được giao thoa với nền văn minh Đông á nổi tiếng – văn minh Trung Hoa. Để từ đó góp phần làm giầu thêm nền văn minh của dân tộc bằng việc tiếp thu chọn lọc những giá trị của văn minh nhân loại

– Đối với việc củng cố an ninh – quốc phòng.

+ Do vị trí thương cảng Vân Đồn nằm án ngữ, kiểm soát con đường biển thuận lợi qua sông Bạch Đằng vào kinh thành Thăng Long nên từ lâu các triều đại phong kiến Việt Nam đã luôn chú trọng đến việc phòng thủ và biến nơi đây thành đồn canh tiền tiêu ngăn bước tiến và đập tan mưu đen tối của quân xâm lược.

+ Lịch sử còn ghi nhận những chiến công vang dội của Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán năm 938; Lê Hoàn chiến thắng quân Tống năm 981; Phó tướng Trần Khánh Dư với trận Vân Đồn – Cửa Lục (1287) rồi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với trận Bạch Đằng Giang lịch sử (năm 1288)…

d. Các di tích,bến thuyền cổ còn lại trong hệ thống thương cảng Vân Đồn.

– Bến Cống Đông

Nằm trên đảo Cống Đông – xã Thắng Lợi. Phía Đông và phía Tây của đảo một khoảng dài hơn 10km là một bến thuyền cổ dài nhất trong các bến bãi. Bến này có bẩy vụng to nhỏ ăn sâu vào đảo trở thành 07 bến đỗ an toàn và tiện lợi. Hiện vật ở đây có số lượng nhiều và phong phú nhất trong tất cả các bến. Trong số đó gốm men nâu thời Trần, gốm men ngọc Trung Quốc thời Nguyên và gốm thời Mạc…

– Bến Cái Làng.

Bến Cái Làng nay thuộc xã Quan Lạn. Suốt bờ vụng phía Đông, một khoảng dài tới 200m có rất nhiều mảnh đồ gốm các loại thuộc nhiều thời khác nhau. Người dân ở đây còn tìm thấy nhiều chồng bát đĩa còn nguyên vẹn và một số tiền đồng thời Đường (Khai nguyên thông bảo 712 – 756). Trên sườn núi còn nhiều dấu tích nền nhà và một nền đình cổ, một giếng cổ – giếng Hệu.

– Bến Cống Cái.

Nằm ở bờ Tây đảo Vân Hải, nay thuộc xã Quan Lạn. Cửa vụng mở ra một con sông do đảo Vân Hải và núi Man chạy song song ngăn một dải nước tạo thành. Bến này cách bến Cái Làng khoảng 2km, nước sâu, kín gió thuận lợi cho thuyền bè neo đậu. Suốt bờ Bắc một dải dài hơn 100m là nơi tích tụ rất nhiều mảnh gốm các loại giống như ở Cái Làng.

– Bến Con Quy

Nay thuộc xã Minh Châu. Tại địa điểm này người ta cũng tìm thấy rất nhiều mảnh gốm như non, vò, hũ, các chồng bát đĩa còn nguyên vẹn và tiền đồng Trung Quốc từ thời Đường – Tống và tiền Việt các thời Lý, Trần, Lê mà nhiều hơn cả là tiền Tây Sơn.

– Bến Cái Cổng

Gồm hai vụng được gọi là Cổng Ông (phía Bắc) và Cổng Bà (phía Nam) thuộc đảo Trà Bản. Tại khu vực này cũng tìm thấy nhiều mảnh đồ gốm các thời Lý, Trần, Lê. Đặc biệt người ta tìm thấy một cây đèn nến bằng gốm, có men mầu trắng ngà, rạn, phong cách Hán.

– Bến Cống Yên, Cống Hẹp

Bến Cống Yên, Cống Hẹp nằm ở phíaTây của đảo Ngọc Vừng. Tại đây cũng tìm thấy nhiều mảnh đồ gốm trên dải bờ kéo dài hàng trăm mét

– Dấu vết và các công trình kiến trúc cổ.

Cùng với việc mở Thương cảng Vân Đồn, các triều đại phong kiến cũng cho xây dựng ở khu vực này nhiều công trình kiến trúc tôn giáo, quân sự…. để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân và các thuyền buôn và hơn nữa đảm bảo về mặt chủ quyền an ninh trong khu Thương cảng cũng như an ninh quốc gia.

Bắt đầu từ khu vực đảo Cống Đông, Cống Tây là sự xuất hiện của một loạt các công trình kiến trúc tôn giáo như dấu tích ngọn bảo tháp, chùa vụng Cây Quéo, chùa vụng Chuồng Bò, chùa Lấm, chùa Trong, chùa Cát … (ở trên đảo Cống Đông, Cống Tây) đồn Tĩnh Hải (Đảo ngọc Vừng) cụm di tích đình, đền, chùa Quan Lạn ( đảo Quan Lạn) …

4. Đảo Ngọc Vừng.

– Vị trí, đặc điểm

+ Đảo nằm trong khu vực phụ cận Di sản thế giới, cách bến tàu du lịch 34km, cách trung tâm thị xã Cẩm Phả khoảng 40 km. Được xác định bởi 107 0 22′ 04″ vĩ độ Bắc và20 0 48′ 57″ kinh độ Đông

+ Trên đảo có dân sinh sống xung quanh đảo có nhiền bãi cát rộng và đẹp dài hàng km.

+ Đây là hòn đảo độc lập với các bãi biển tuyệt đẹp, bãi triều, rừng ngập mặn và khu vực đầm lầy biển với các loài động thực vật phong phú. Trên đảo và khu vực xung quanh biển có một số loài như trăn, khỉ, lợn rừng…

– Các di chỉ khảo cổ và di tích lịch sử

+ Ngọc Vừng là nơi đầu tiên phát hiện di chỉ khảo cổ thuộc nền văn hoá Hạ Long cách ngay nay khoảng 3500-3000 năm do nhà khảo cổ học người Thuỵ Điển tên là Andecson tìm thấy.

+ Qua các thời kì phong kiến, đặc biệt vào thời Nguyễn do thấy được vị trí chiến lược của đảo: nằm án ngữ cửa ngõ ra vào Vịnh Hạ Long, năm 1839 vua Minh Mệnh đã cho xây dựng đồn Tĩnh Hải để án ngữ kiểm soát vùng biển này. Đến nay đồn này vẫn còn dấu vết ở phía Đông của đảo, cạnh sông Cổng Đồn.

+ Ngày 12/11/1962 , Bác Hồ tới thăm, nói chuyện với cán bộ và nhân dân trên đảo và trồng một cây đa lưu niệm.

+ Trong đợt leo thang đánh phá bằng đường không của quân Mỹ, ngày 24.12. 1972, trân địa pháo cao xạ trên đảo của các dân quân xã đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 của QN. Góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ trên không của quân và dân ta.Trận địa pháo đã được Bộ Văn hoá công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 2002.

– Các tiềm năng phát triển kinh tế, du lịch.

+ Ngọc Vừng nằm gần rạn san hô khu vực đảo Quan Lạn, Cống Đỏ và Vạn Giò, thuận tiện cho việc khai thác dịch vụ lặn, có thể phát triển tour du lịch trong ngày đến chợ cá quốc tế trên đảo Hạ Mai gần kề và tour du lịch ngắn đến Công viên quốc gia Ba Mùn, tham quan lễ hội của ngư dân.

+ Đảo Ngọc Vừng có thể phát triển thành khu du lich sinh thái, tắm biển vui chơi giải trí và giáo dục di sản. Đặc biệt, có thể phát triển đảo Ngọc Vừng thành khu vực nghỉ mát cho du khách, và các gia đình, học sinh cắm trại vv…

5. Đảo Quan Lạn

– Vị trí diện tích:

+ Đảo Quan Lạn thuộc huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh (còn gọi là đảo Cảnh Cước). Đảo cách thành phố Hạ Long 55 km, cách thị trấn Cái Rồng 35 km. Được xác định trong điểm toạ độ: 107 0 28’54”21 0 50’57” diện tích: 15,74km2. Trên đảo hiện có 5 thôn, với số dân trên 6.000 người.

– Các di tích, danh thắng trên đảo

* Đình Quan Lạn

+ Đình Quan Lạn là một công trình kiến trúc cổ có quy mô khá lớn, nằm ngay trung tâm xã Quan Lạn, trên Bến thuyền (còn gọi là Bến đình). Xưa kia đình được dựng ở Cái Làng – một trong những trung tâm sầm uất của Thương cảng Vân Đồn ngày ấy. Về sau, người ta chuyển vào địa phận xã Quan Lạn ngày nay, khi đi họ chuyển luôn cả ngôi đình theo. Trước kia, đình gồm 09 gian, khi chuyển sang vị trí bây giờ người ta đã rút bớt đi còn 07 gian, hiện đình có kết cấu kiểu chữ công ( I ) gồm 05 gian hai chái, tiền đường, ống muống và hậu cung.

+ Đình Quan Lạn có một quy mô kiến trúc khá bề thế. Với một hệ thống mái rộng nhưng không hề nặng nề mà ngược lại, tạo được một vẻ mềm mại, nhẹ nhàng bởi các đầu đao cong vút. Bên trong đình được trang trí bằng nghệ thuật chạm khắc công phu tạo thành một bức tranh liên hoàn mang tính hoành tráng. Đề tài được các nghệ nhân thể hiện chủ yếu là rồng, phượng, hoa lá nhưng mỗi mảng điêu khắc lại diễn tả một ý niệm cụ thể khác nhau mà vẫn hòa hợp nên một vẻ đẹp chung.

+ Toàn bộ hệ thống cột gỗ trong đình được làm từ chất liệu gỗ mần lái – một loại gỗ tốt và chắc hơn cả gỗ lim, mọc nhiều trên núi đá của đảo Ba Mùn, vì thế trải qua thời gian và các lần di chuyển, đình vẫn giữ nguyên được hệ thống cột đó.

+ Hiện tại, đình thờ Thành Hoàng làng là Phó tướng Trần Khánh Dư – vị tướng làm nên chiến thắng Vân Đồn – Cửa Lục góp phần không nhỏ tạo nên chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 và các vị tiên công có công khai phá đất Quan Lạn. Hiện còn lưu giữ được cả thảy 18 bản sắc phong của các triều đình phong kiến sắc tặng cho các vị thần mà nhân dân thờ phụng.

+ Mặc dù đình Quan Lạn nằm trên một đảo nhỏ cách rất xa đất liền – nơi đầu sóng ngọn gió, ảnh hưởng mạnh mẽ sự giao thoa giữa các nền văn hoá đình vẫn giữ được tính thuần Việt tiêu biểu, một ngôi làng với “ cây đa bến nước sân đình” như bao ngôi làng ở miền Bắc Bộ Việt Nam. Đó thực sự là một cột mốc về văn hóa, khẳng định sức sống mãnh liệt trường tồn của văn hóa Việt Nam .

+ Hội đình Quan Lạn diễn ra trong 10 ngày ( từ 18/6 – 26/6 âm lịch). Trong hội làng có tái diễn lại trận Trần Khánh Dư đánh giặc, hội đua thuyền .v.v

* Chùa Quan Lạn

+ Chùa Quan Lạn nằm ngay bên trái đình, có tên chữ là Linh Quang Tự. (Chùa Linh Quang)

+ Chùa có kiến trúc kiểu chữ đinh ( J ), gồm ba gian hai chái, tiền đường và hậu cung, mái chùa được lợp bằng ngói mũi hài. Phía trước chùa là tam quan. Chùa được xây dựng vào thời Nguyễn

+ Ngoài thờ Phật, chùa còn thờ mẫu Liễu Hạnh.

+ Chùa hiện còn lưu giữ đầy đủ hệ thống tượng Phật, các bức hoành phi câu đối, sắc phong và các đồ thờ tự khác có giá trị về nhiều mặt.

+ Chùa là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân trên đảo và các đảo lân cận.

* Nghè Trần Khánh Dư

+ Nghè Trần Khánh Dư ở xóm Thái Hoà, xã Quan Lạn, không rõ được dựng từ bao giờ nhưng đã bị hỏng hoàn toàn. Năm 1995 nghè được xây dựng lại theo kiểu chữ đinh, gồm 3 gian tiền đường và một gian hậu cung. Nghè thờ Phó tướng Trần Khánh Dư

– Các giá trị tiềm năng của đảo

+ Với một loạt các công trình kiến trúc tiêu biểu, lại được thiên nhiên ưu đãi với các bãi cát trắng mịn dài hàng km. Quan Lạn đã và đang chuyển mình, trở thành một trong những trung tâm du lịch hấp dẫn mang tầm cỡ Quốc gia.

6. Hang Soi Nhụ.

– Vị trí, tên gọi

+ Hang Soi Nhụ nằm trên hòn Thung Soi Nhụ – một đảo đá vôi ở vùng vịnh Bái Tử Long nay thuộc xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, cách thị trấn Cái Rồng chừng 08km, được xác định bởi 107 0 29 ‘ 46 ” vĩ độ Bắc và 21 0 04 ‘ 19 ” độ kinh Đông có diện tích 0,8310km 2 , đỉnh cao 213m.

+ Trên đảo có một hang đá rộng và kín gọi là hang Soi Nhụ, người dân đi biển đã lập trong hang một miếu nhỏ, nên hang cũng có tên là Hang Miếu.

– Quá trình phát hiện nghiên cứu

Năm 1964, cán bộ của Đội khảo sát thuộc Bộ Văn hoá đã điều tra phát hiện hang này. Tháng 7 năm 1967, Đội khảo cổ và Ty Văn hoá Quảng Ninh cử người xem xét kĩ lại và đến tháng 12 năm 1967 tiến hành khai quật chính thức.

– Cấu trúc

+ Hang có ba phần, hang dưới, hang giữa, và hang trên.

+ Hang trên là một hang nhỏ không thông với hang giữa và hang dưới. Nền hang cao 12m so với mực nước biển (khi nước triều lên cao nhất).

+ Hang dưới, sâu khoảng 21m, cửa hang rộng 12m, cao 09m mặt nền cao khoảng 01m (lúc nước triều lên). Suốt dọc vách phải phía cửa hang, có một tầng vỏ ốc, đó là ốc nước ngọt và chủ yếu là ốc tai, hầu hết bị vỡ trôn, kết với đất cát thành tầng dầy tới 1,5m, rất rắn. Trong tầng vỏ ốc này đã tìm thấy một đoạn xương chi bò và một số xương người đã hoá thạch cùng vài mảnh gốm.

+ Hang giữa là một ngách của hang dưới, hang này nhỏ, kín đáo và ấm áp. Mặt của sàn hang này là một lớp nhũ rắn phủ kín tầng văn hoá, lớp di vật chủ yếu phân bố trên sàn này.

– Hiện vật được tìm thấy

+ Trong hang, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 10 di vật đá, trong đó có 02 nạo đá, 03 rìu đá, 02 mảnh bàn mài, 01 chày đá, 02 hòn cuội tự nhiên. Tất cả những hiện vật đá này đều còn ở trình độ thấp của kĩ thuật mài.

+ Ngoài hiện vật bằng đá, các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở đay một số hiện vật gốm, đều là những mảnh vỡ vụn, kĩ thuật chế tác thô sơ.

+ Trong các tầng Văn hoá, tìm thấy một xương chi bò, hơn 400 đốt xương sống cá, còn lại là vỏ ốc các loại như : ốc lợn, ốc tai….trong đó vỏ ốc tai chiếm đại đa số. Đặc biệt, trong hang còn tìm thấy đượcnhiều mảnh di cốt người. Mặc dù xương bị gãy vỡ nhiều nhưng cũng có thể đưa ra một nhận định rằng đó là di cốt của 05 người, gồm 02 nam, 03 nữ.

– ý nghĩa giá trị:

+ Các nhà khảo cổ học, sau khi nghiên cứu đã cho rằng: Soi Nhụ là nơi sinh sống của người Việt cổ, thuộc hai nền văn hoá, Văn hoá Soi Nhụ và Văn hoá Hạ Long. Dựa vào các mẫu phóng xã C.14, có thể kết luận rằng niên đại của văn hoá tại hang giữa Soi Nhụ thuộc về Hậu kì đá cũ tới Sơ kì đá mới, tức từ 15.000 đến 8.000 năm. Và như vậy hang giữa Soi Nhụ đại diện cho một thời đại, một Văn hoá độc lập ở khu vực này, tương đưong với Văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn.

+ Còn dựa vào các mẫu vật tìm thấy ở hang dưới Soi Nhụ, đem so sánh với các hiện vật khác ở các di chỉ khác thuộc Văn hoá Hạ Long, các nhà khảo cổ học đưa ra nhận định: Niên đại của hang dưới Soi Nhụ thuộc Văn hoá Hạ Long, có niên đại từ 3.500 cho đến 3.000 cách ngày nay.

Như vậy, di chỉ hang Soi Nhụ là điểm tiếp biến liên tục của hai nền văn hoá: văn hoá tiền Hạ Long và văn hoá Hạ Long.

7. Hang Quan

– Vị trí

+ Hang Quan nằm trên đảo Mò Trai, nằm ở vị trí 107 0 19 ‘ 07 ” và 20 0 54 ‘ 23 ” , diện tích hang khoảng 5.000m 2 .
– Những sự kiện lịch sử
+ Hang Quan là một trong những chứng tích lịch sử trên Vịnh Hạ Long. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hang Quan là một trong những điểm tập trung quân lực, vũ khí và sửa chữa tàu thuyền của Hải Quân Việt Nam và là điểm xuất phát của những chuyến tàu không số anh hùng mang theo vũ khí, lương thực vào Nam để đánh Mỹ. Nơi đây còn lưu lại những công trình lịch sử một thời như: Triền cất tàu, trạm sửa chữa tàu, kho vũ khí… Công trình này do phòng Công binh thuộc Quân chủng Hải quân thiết kế và thi công từ những năm giữa thập kỷ 60 đế.. những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Trong suốt khoảng thời gian đó, đối mặt với bao khó khăn gian khổ, họ đã phá được 18.880m 3 đá, đổ 480m 3 bê tông, xây đắp 3.440m 3 đá, vận chuyển 4.000 tấn hàng để xây dựng công trình này.

+ Hiện nay, Hang Quan còn lưu giữ nguyên dấu tích một thời chinh chiến gian khổ nhưng anh dũng của quân đội ta và tương lai không xa, du khách sẽ được đến tham quan, tìm hiểu Hang Quan để ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc.

Nhóm Biên soạn chuyên đề hoàn thành tháng 12/2003

Chấp bút và chỉnh sửa: Nguyễn Văn Học

(1) Phần viết về núi Bài Thơ chủ yếu dựa vào Hồ sơ khoa học núi Bài Thơ, có chỉnh sửa để phù hợp với bài viết.

(2) Lê Thánh Tông tự là Tư Thành, tên húy là Hạo, con trai út của Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Dao, ông sinh năm 1442, làm vua từ 1460 đến năm 1497. Ông mất năm 1497, ở ngôi 37 năm.

(3) Hướng dẫn trích đọc bài thơ.

(4) Hướng dẫn trích đọc bài thơ.

(2) Số liệu kiểm tra của Phân viện Hải dương học Hải Phòng1999

Lịch triều hiến chương loại chí, quyển Hai, phần Dư địa chí

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: