Tiềm năng Hạ Long phần 4

Chuyên đề IV: giới thiệu tuyến du lịch từ cảng tầu cái dăm – hòn rều – đảo tuần châu – khu vực đảO lờm bò – động mê cung – hang tiên ông – làng chài cửa vạn – hồ ba hầm – động tam cung – trở về cảng tầu

 

A. . Nội dung hướng dẫn

1. Đảo Lờm Bò

– Vị trí; đặc điểm

+ Được xác định trong điểm toạ độ 107 0 04’20”độ vĩ Bắc và 20 0 50′ 14” độ kinh Đông với diện tích 0,57km 2 . Hòn Lờm Bò thuộc khu vực bảo vệ tuyệt đối của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, cách bến tàu du lịch khoảng 12 km về phía Tây Nam, cách đảo TiTốp khoảng 3 km về phía Tây Nam (giáp với vườn quốc gia Cát Bà).

+ Đây là một dạng đảo phiến thạch, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, hiện còn giữ được nhiều nét hoang sơ. Phía trong hòn Lờm Bò có hồ nước rất đẹp (hồ này nằm cạnh động Mê Cung).

– Tiềm năng cho phát triển du lịch của hòn đảo này rất lớn vì đây là hòn đảo nằm trong khu vực bảo vệ tuyệt đối của Di sản, có nơi đỗ cho tàu thuyền rất thuận tiện, một bãi sỏi cuội tự nhiên có thể cải tạo thành một bãi tắm nhân tạo lý tưởng. Có thể phát triển ở đây loại hình du lịch: Sinh thái; Leo núi; Thám hiểm; Thăm làng chài; Du lịch văn hoá …

– Giá trị đa dạng sinh học

+ Hòn Lờm Bò, có đầy đủ sự phong phú, đa dạng của hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới, hơn nữa là các chủng loại thực vật sinh sống trên núi đá vôi Hạ Long như: xanh, si, sến, táu…và các loại thảo mộc thân mềm, cây leo… quanh năm xanh tốt.  Đặc biệt, trên đảo này đã phát hiện ra 3 trong số 7 loài thực vật đặc hữu của Hạ Long trong đó có Cọ Hạ Long.

+ Khu vực hòn Lờm Bò có đầy đủ hệ thực vật biển Hạ Long như rong, rêu, san hÔ…

+ Do có một thảm thực vật thiên nhiên và nhân tạo quanh năm xanh tốt, độ ẩm tương đối hài hoà nên khu vực này có một ưu thế riêng: vụng biển kín với nhiều vũng, là nơi trú ngụ của các loài cá từ biển đông vào, những loài hải sản quý như: Chim, nhụ, đé, bào ngư, hải sâm, mực nang, sa sùng, sò huyết, ngán…

2. Động Mê Cung

– Vị trí địa lý.

+ Động Mê Cung cách bến tàu du lịch Bãi Cháy 14km về hướng tây bắc, cách núi Bài Thơ – Thành phố Hạ Long 12,5km về hướng bắc. Động nằm trên đảo Lờm Bò, cạnh lạch Lờm Bò – đoạn nối từ lạch Vểu ra đảo Đầu Bê. Từ động Mê Cung nhìn đối diện với đảo Bồ Hòn – là có đảo nhiều hang động đẹp nổi tiếng như hang Trinh Nữ, hang Sửng Sốt, Hồ Động Tiên.

+ Động Mê Cung cách hòn Cát Nàng (bãi tắm TiTốp) 3km về phía Tây Nam . Động Mê Cung, hang Trinh Nữ, hang Bồ Nâu, hang Sửng Sốt, bãi tắm Titốp tạo thành một quần thể hang động đẹp và là một trong những tuyến tham quan du lịch hấp dẫn của Vịnh Hạ Long.

– Quá trình hình thành động Mê Cung

+ Cách ngày nay 20 triệu năm, vào kỷ Neogen, vùng Vịnh Hạ Long sụt lún từ từ kéo dài làm cho các trũng đồng bằng Karst chìm xuống dưới mực nước biển, tạo điều kiện để nước biển tràn vào, tạo thành các vịnh lớn nhỏ phân cách nhau bằng các núi sót nhô lên khỏi mặt nước biển. Vì vậy địa hình đá vôi Vịnh Hạ Long còn được gọi là địa hình Karst sót. Quá trình hình thành hang động và nhũ đá được xảy ra trong một khoảng thời gian bắt đầu từ kỷ Jura cách ngày nay 150 triệu năm.

+ Quá trình hình thành động Mê Cung xảy ra đồng thới với quá trình Karst hóa núi đá trên Vịnh Hạ Long. Quá trình lý hoá này xảy ra từ từ, liên tục và kéo dài mãi về sau. Quá trình xâm thực của nước mưa qua các khe nứt tạo thành những hang có thể ở cao hay thấp trên núi đá vôi.

– Cấu trúc và giá trị thẩm mỹ

Cấu trúc:

+ Nằm trên độ cao 15m so với mực nước biển, ở phía Đông Nam hòn Lờm Bò. Cửa động quay về hướng Nam , dạng hàm ếch, được kết tủa bằng đá vôi nguyên chất. Động Mê Cung được chia thành 4 phần riêng biệt, trong đó gồm 5 cung trong động và 2 khu ngoài động. Tất cả đều được thông với nhau bằng hệ thống đường dẫn, các bậc kè đá hộc, cửa vòm cuốn thiên tạo đáng uyển chuyển sinh động. Sự hài hoà giữa không gian và cảnh quan đã biến nơi đây thành “chốn đào nguyên” nơi trần thế – một điểm nghiên cứu, tham quan du lịch hấp dẫn của Vịnh Hạ Long.  

Giá trị thẩm mỹ:

– Động Mê Cung có một giá trị thẩm mỹ đặc biệt, vẫn còn những nét sơ khai ban đầu, với măng nhũ đá, cột, rèm đá nguyên bản, những tác phẩm nghệ thuật đang được tác tạo bởi tạo hoá có thể dẫn du khách tới những mê hồn trận.

– Ngăn thứ nhất mở ra trong ánh đèn chiếu sáng, trước mắt du khách là những tác phẩm điêu khắc, những tượng đài, những bức chạm nổi thiên nhiên với những hình thù tinh tế đến kỳ lạ. Qua hai cửa nhỏ, ta vào cung thứ hai, ngoài thế giới của những sinh linh ẩn hiện, dưới bàn tay kỳ phu của tạo hoá, không chỉ những tượng đài, nụ hoa, những bức tranh hoành tráng, được tạo thành mà các khối kiến trúc của một lâu đài cổ kính cũng được khắc hoạ.

– Tiếp tục tuyến tham quan, du khách có cảm tưởng bị cuốn hút vào cung thứ 3 với những âm thanh sống động của chiếc đàn đá đặc biệt được tạo bởi một hệ thống nhiều nhũ đá xếp liên tiếp với nhau. Toàn bộ vách phải của ngăn 3 và ngăn 4 là là hệ thống rèm, cột, nhũ đá kết tạo thành bức tường thành. Từ ngăn 4, du khách có thể tìm lối xuống thuỷ cung qua một cửa nhỏ, bên ngoài cửa là các cột đá nối từ trần hang xuống đáy tạo lối, ngóc ngách. Qua ngăn này, du khách sẽ thăm vườn Thượng Uyển với hệ thực vật phong phú và đẹp mắt. Đứng ở đây, phóng tầm mắt từ độ cao 50m ra bốn phía Hạ Long, lại một lần nữa ta bắt gặp một Hạ Long hoàn toàn khác, cảm giác có được sẽ là một Vịnh Hạ Long thu nhỏ, được bao bọc bốn phía bởi núi đá – một chiếc hồ xinh xắn.

– Giá trị văn hoá – khảo cổ

+ Khối trầm tích vỏ ốc trên cửa động: Nằm trên dộ cao 15m so với mặt nước biển, cửa động Mê Cung quay về hướng đông nam. Trên một diện tích165m2, phủ một lớp trầm tích vỏ ốc đã bị Cacbonat hoá màu trắng. Một điều đặc biệt, những vỏ ốc đó không phải là những vỏ ốc biển mà là ốc suối Melanea – ốc nước ngọt, chứng tỏ rằng con người đã cư trú ở đây từ khi Hạ long chưa là biển. Trên vách phải cửa động một lớp trầm tích dày 0,80m 2 được phủ trên bề mặt một lớp nhũ đá vôi dày 25cm, đây là tầng văn hoá đã bị những người phát hiện động sửa chữa và san bằng tạo thành mặt bằng cửa động. Hiện nay, vẫn còn một số khối trầm tích nổi được kết tạo bởi nhũ đá vôi và vỏ ốc xoắn dầy: 1m, trong đó: 25 – 30cm nhũ đá vôi, 75 – 80cm vỏ ốc bị Cacbon hoá màu trắng.

+ Với di chỉ khảo cổ động Mê Cung (nằm trên hòn Lờm Bò) đã cho kết quả ban đầu thông qua nghiên cứu với khối trầm tích vỏ ốc đã bị Cacbonat hoá màu trắng: Chủ nhân của họ là người nguyên thuỷ thuộc nền văn hoá Soi Nhụ. Do chưa hiểu được tầm quan trọng của các di chỉ khảo cổ tại động Mê Cung, dẫn đến sự khai thác thiếu sự bảo vệ, làm xáo trộn vị trí ban đầu của các địa tầng văn hoá.

+ Đến với động Mê Cung, du khách có thể nghiên cứu, tham quan một di chỉ khảo cổ học thời đồ đá mới, thuộc nền văn hoá Soi Nhụ, với những hiện vật sống động, thông qua khối trầm tích vỏ ốc đã bị Cacbonat hoá màu trắng ta có thể biết được rằng, chính nơi đây từ 14.000 đến 7.000 năm về trước đã là cái nôi của con người, họ đã sinh sống, cư trú, bằng phương thức săn bắn hái lượm, một trong những tàn tích thức ăn của họ kiếm được là những vỏ ốc còn lại cho tới ngày nay.

3. Hang Tiên Ông

– Vị trí, đặc điểm

+ Hang Tiên Ông nằm trên hòn Cái Tai, tại 107 0 06′ 29″ kinh độ Đông và 20 0 48′ 40″ vĩ độ Bắc với diện tích 0.0538km2, đỉnh cao 183m. Cửa hang nhìn ra một Vịnh nhỏ, rộng khoảng vài km, ba phía được bao bọc bởi các đảo đá vôi, vừa thoáng rộng vừa kín gió.

– Quá trình hình thành.

+ Quá trình hình thành động Tiên Ông xảy ra đồng thời với quá trình Karst hóa núi đá trên Vịnh Hạ Long. Quá trình lý hoá này xảy ra từ từ, liên tục và kéo dài mãi về sau. Quá trình xâm thực của nước mưa qua các khe nứt tạo thành những hang có thể ở cao hay thấp trên núi đá vôi.

– Cấu trúc.

+ Hang mở ra dưới một vách đá hình cánh cung có một mái đá với một hành lang dài khoảng 100m, dốc thoai thoải về phía trái cuả hang. Cửa hang là phần rộng rãi nhất của mái đá, với bề ngang khoảng 40- 50m. Nền hang chỉ cao từ 4- 5m so với mực nước biển hiện tại. Vòm cửa hang cao khoảng 10m, sau ăn vát vào phía trong tạo cho trần hang thấp dần cho đến mức 4-5m, với các cột nhũ đá trông rất kỳ thú ở giữa hang. Nền hang rộng chừng 500m 3 . Cách cửa hang chừng 30m sâu vào phía trong là một hệ thống nhũ đá tạo thành một bức rèm đá che chắn phía đáy hang.

– Giá trị văn hoá khảo cổ.

+ Trong hang có một khối lượng khổng lồ vỏ (hàng trăm m 3 ) nhuyễn thể nước ngọt : ốc Melania. Ngoài ra người ta còn tìm thấy trong hang, một số công cụ đá: 05 công cụ cuội rất cổ sơ; một số mảnh gốm xốp. Những năm trước một công ty du lịch đã cải tạo hang này làm điểm tham quan cho khách. Vì mục đích đó họ đã cho vét hết các tầng văn hoá để đắp đoạn đường đi vào trong hang làm cho tầng Văn hoá bị xáo trộn, gây khó khăn cho công việc nghiên cứu. Tuy nhiên, với những gì còn lại ở đây đã chứng minh hang Tiên ông là một trong những điểm di chỉ khảo cổ học quan trọng hấp dẫn thuộc thời kì tiền sử Hạ Long.

+ Các nhà khảo cổ học cho rằng di chỉ khảo cổ trên hang Tiên Ông thuộc về nền văn hoá Soi Nhụ, có niên đại cách ngày nay từ 14.000 đến 7.000 năm.

4. Làng chài Cửa Vạn.

– Vị trí, tên gọi làng chài Cửa Vạn

+ Làng chài Cửa Vạn nằm ngay dưới chân Hòn Ngọc, gần khu vực Cửa Vạn, có toạ độ107 0 06′ 33″ kinh độ Đông và 20 0 48′ 36″ vĩ độ Bắc, cách cảng tầu du lịch Bãi Cháy khoảng 30 km, cách trung tâm thành phố Hạ Long chừng 17km.

+ Tên làng chài cũng được lấy từ tên của một cửa biển gần đó: Cửa Vạn.

– Quá trình hình thành và đời sống kinh tế

+ Khu vực Cửa Vạn, từ lâu đã là nơi cư ngụ của các ngư dân trên vịnh Hạ Long, bởi nơi đây có mực nước nông kín gió, lại gần các ngư trường đánh bắt, rất thuận tiện cho việc khai thác và cư trú. Do có các điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy, nên từ lâu khu vực này đã là một trong những điểm tụ cư chính của ngư dân trên vùng vịnh Hạ Long. Hiện tại, làng chài này là một thôn và chịu sự quản lý hành chính của UBND xã Hùng Thắng, UBND thành phố Hạ Long.

+ Hiện tại, làng chài Cửa Vạn có trên 80 hộ lồng bè với gần 400 nhân khẩu là một điểm tụ cư lớn nhất của ngư dân ở tên vịnh Hạ Long. Từ năm 2000, được sự quan tâm đầu tư của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng, các tổ chức trong và ngoài nước, làng chài đã mở được 02 lớp học cho trẻ em. Trước kia bà con sinh sống chủ yếu bằng phương pháp đánh bắt, nhưng thời gian gần đây do sự suy giảm các nguồn lợi hải sản trong vùng lộng họ chuyển sang hình thức nuôi cá lồng bè.

– Nguồn gốc

+ Một số nhà nghiên cứu cho rằng “họ là di duệ của những tổ tiên thu lượm hải sản – chài lưới từ thời đá mới, rằng họ là người Hạ Long gốc gác, ít nhất đã tồn tại ở đây 4000 – 5000 năm từ thời văn hoá Hạ Long. Còn nếu muộn hơn thì như nhà sử học Trần Quốc Vượng nói : Họ là hậu duệ của những tổ tiên người Đãn – Man – con cháu của những người bà con anh em Mạc Đăng Dung”

+ Các làng chài trên Vịnh Hạ Long hôm nay chủ yếu là cư dân gốc từ các làng thuỷ cư Giang Võng, Trúc Võng – tức khu vực Cửa Lục ngày nay.

– Phong tục tập quán.

Do nghề nghiệp và môi trường hoạt động là đánh cá trên biển nên gia đình của cư dân làng chài có nhiều nét khác biệt:

+ Mỗi dòng họ có một miếu thờ ông tổ và thờ thần biển đặt ở trên các hang núi gần nơi cư trú, vào ngày giỗ tổ hoặc vào các dịp lễ mùa ( ngày cuối của các tháng 3,6,9,12 âm lịch) cả họ sửa lễ để cầu khấn tại miếu này. Vào các ngày sóc, vọng, từng gia đình trong họ thường đến đây làm lễ. Những người của các dòng họ khác cũng có thể đến lễ nhờ. Đây có thể coi là nhà thờ họ như nhà thờ họ của dân cư trên bờ vậy. Gặp khi cả họ chuyển đi sinh sống nơi khác, bát hương trong miếu thờ được đem đến nơi ở mới để lập miếu mới. Khi chuyển đến nơi khác, thường là do yếu tố tín ngưỡng chẳng hạn với quan niệm khu vực cũ bị động, bị “ Hà Bá” quấy nhiễu gây mất mùa cá, gây dịch bệnh hoả hoạn, thuỷ tai… đã cúng giải mà không được. Đây trở thành một tính chất không ổn định của cư dân vạn chài Hạ Long .

+ Cũng như mọi làng quê khác, đồng bào dân chài gia đình nào cũng lập bàn thờ tổ tiên. Tuy diện tích trên thuyền rất chật hẹp nhưng bàn thờ vẫn được bố trí trang trọng trong khoang giữa của thuyền, phía bên trái – bên vuôn .

+ Trong năm, người dân chài cũng có những ngày lễ tết như ở mọi miền quê khác như cúng Táo Quân (23.12); Thanh Minh tảo mộ vào (15.1) trong hai lễ này ngoài những lễ vật bình thường như xôi gà, hoa quả…thì họ còn dùng cá: cá rán, hay nướng. Ngoài ra họ còn có những ngày lễ r Hạ Long Lịch Sử – Hà Hữu Nga, Ban Quản Lý Vịnh Hạ Long

* Lễ giở mũi thuyền:

+ Xưa kia, sau khi đón xuân mới xong, vào ngày tốt (thường là mùng 4 Tết), người ta tiến hành làm “lễ giở mũi thuyền”. Bởi vì trước khi đón Tết, các thuyền trong Chòm, trong Vạn hay anh em họ hàng neo đậu thuyền vào bờ hay những nơi kín gió, họ buộc chặt thuyền ở một nơi và không rời thuyền đi nơi khác cho tới ngày làm “lễ giở mũi thuyền”.

+ Để tiến hành lễ này, gia chủ phải sắm: gà, xôi, tiền, gạo, hồ, vàng hương … rồi mời thầy cúng đến hành lễ. Thầy cúng thắp hương cầm một mảnh vải điều xin lệnh của trời đất, thuỷ thần phù hộ cho gia chủ có một năm mới dồi dào sức khỏe, làm ăn may mắn… rồi dùng ấn lệnh mang theo đóng dấu lên mảnh vải điều đó trao cho gia chủ để buộc vào mui thuyền cầu may mắn.

+ Xong các nghi lễ trên người ta nhổ neo, cởi dây buộc mũi thuyền rồi cho thuyền rời bến. Lúc thuyền rời bến người ta phải chú ý xem có thuyền nào chắn trước hướng mũi thuyền của mình không, nếu có thì phải dừng lại chờ thuyền kia đi qua rồi mới xuất bến vì người ta kiêng khi cho thuyền rời bến đầu năm mà có thuyền khác chắn ngang hướng đi thì làm ăn sẽ không may mắn trong cả năm đó.

* Tục đàn ông đỡ đẻ cho vợ:

Cuộc sống của ngư dân hai làng Giang va Trúc Võng có điểm khác biệt với các làng chài khác là họ sinh hoạt và cư trú hoàn toàn ở trên thuyền và trong khi ra khơi đánh bắt cả gia đình cùng đi. Trong những lúc đó nếu người phụ nữ trở dạ thì họ không đủ thời gian cập thuyền vào bến hay đi tìm bà mụ để đỡ đẻ: Trách nhiệm đó được trao cho người chồng. Khi đó anh ta sẽ neo thuyền vào một nơi kín gió, rồi phải lo chuẩn bị mọi thứ để đón đứa con chào đời. Vì thế nên, ngay từ lúc nhỏ các chàng trai ít nhiều đã được bố mẹ, anh em hay các thế hệ đi trước truyền lại những kiến thức nhất định về việc này.

– Các hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng

•  Hát Giao Duyên

+ Hát Giao duyên là lối hát đối đáp giữa nam và nữ, nó gắn liền với sinh hoạt của cả cộng đồng, là chiếc cầu nối tình cảm giữa các chàng trai cô gái… Hát Giao duyên của cư dân hai làng Giang Võng và Trúc Võng nói riêng và của cư dân chài lưới khu vực Vịnh Hạ Long nói chung gần gũi với cách hát của người Việt ở vùng châu thổ sông Hồng, song trong bối cảnh địa văn biển đảo Quảng Ninh mà cũng có những nét khác biệt đặc trưng ở các làng chài khác không có.

+ Hát Giao duyên còn được gọi là hát Ghẹo, hát Đúm và người dân chài ở Hạ Long gọi bằng một cái tên dân dã: hát Giai Gái. Đó là lối hát được thực hiện giữa hai nhóm nam và nữ. Nó thường được diễn ra vào những lúc nghỉ ngơi, buông neo đợi nước, hay những đêm trăng sáng bà con không đi đánh cá được.

+ Mục đích chính của cuộc hát không phải là phân định thắng thua mà cái chính là hát để giao lưu, để tìm bạn, để bày tỏ tình cảm. Nhiều đôi trai gái quen nhau, yêu nhau rồi nên vợ nên chồng qua lời ca tiếng hát.

•  Hát đám cưới.

+ Trong đời sống văn hoá của cộng đồng dân chài xưa, nổi bật có tục Hát đám cưới. Cuộc hát thường diễn ra vào khi thuyền của nhà trai đến nhà gái xin rước dâu. Hát đám cưới thường được chia làm các bước chính là hát mở Ngõ khách; Ngõ treo và Ngõ hoa, mỗi ngõ thường được trang trí cách điệu bằng một dải lụa mầu.

+ Hát đám cưới là một nét sinh hoạt văn hoá đẹp mang tính cộng đồng cao, mà trong đó ẩn chứa bao điều ước vọng, bao điều nhắn nhủ của người dân lao động. Nếu như các nghi thức là phần Lễ thì hát Giăng ngõ chính là phần Hội của đám cưới, của cả làng – đó là dịp mà trai gái đôi bên có dịp làm quen, thử tài nhau qua câu hát, để rồi lại có thể nên vợ nên chồng. Đáng tiếc vào năm 1942 trong cuộc Cải lương hương chính các làng xã Bắc Kì, không hiểu vì lý do gì hát đám cưới đã chính thức bị cấm (1) . Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, của thời gian loại hình sinh hoạt văn hoá này vẫn như một dòng chảy ngầm thẩm thấu đến tận ngày nay.

•  Hò Biển

+ Hò biển còn gọi là hát chèo thuyền, hát chèo đường, hát ví, hát giảng …Về nội dung hò biển cũng chính là các bài hát giao duyên, đối đáp như hát Giai Gái được phát triển lên từ thể thơ lục bát trong dân gian.

+ Dân làng chài Giang Võng và Trúc Võng không có nhà trên bờ, ngôi nhà của họ chính là con thuyền nhỏ bé lênh đênh trên sóng nước, nay kiếm ăn ở vùng biển này, ngày mai có thể lênh đênh ở vùng biển khác, họ chỉ quen nhau thân thiết với nhau qua giọng hò câu hát. Phần lớn trai gái hai làng nên vợ nên chồng từ câu hát. Hò biển trở thành phương tiện giao lưu là nhu cầu tình cảm cho nên nó có lời ca hết sức phong phú, có đủ các cung bậc tình yêu, có kín đáo duyên đáng, có chân thành thuỷ chung lại có cả ghen tuông giận hờn, đôi khi khép nép nhún nhường hoặc lại có cả bạo dạn (đến mức độ muốn bứt phá vượt rào.)

– Quan điểm của Cơ quan Quản lý Di sản về Bảo tồn phát huy giá trị văn hoá làng chài Cửa Vạn

+ Trong dự án về Bảo tàng sinh thái Hạ Long, làng chài Cửa Vạn là một trong những điểm được chọn để xây dựng một trung tâm thuyết minh nối, nơi đây sẽ trở thành chiếc cầu nối quan trọng giữa Di sản, dân chài Hạ Long với du khách. Các phong tục, tập quán, lễ hội và những bài ca truyền thống của những người dân chài Giang Võng và Trúc Võng xưa sẽ đem lại cho du khách những kinh nghiệm và những kỷ niệm không phai mờ về Vịnh Hạ Long.

+ Có thể nói, vịnh Hạ Long là khu di sản thiên nhiên Thế giới duy nhất có các cư dân sinh sống. Điều đó vừa tạo ra yếu tố nhân văn độc đáo làm tăng thêm sự cuốn hút cho khu Di sản nhưng ngược lại nó cũng đặt ra một thách thức không nhỏ đó là vấn đề bảo vệ cảnh quan và môi trường vịnh Hạ Long. Hiểu rõ điều đó, Ban Quản lý vịnh Hạ Long đã phối hợp với các cấp chính quyền và các cơ quan hữu quan đề ra những biện pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng không tốt cho vịnh Hạ Long. Một trong những biện pháp đó là giáo dục cộng đồng nâng cao nhận thức của bà con trong việc bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long, phát động một chương trình xây dựng lối ứng xử văn hoá đối với Di sản thiên nhiên thế giới VHL trong cộng đồng cư dân khu vực Hạ Long. Bởi vì không ai khác, chủ nhân của Di sản thế giới Vịnh Hạ Long trực tiếp nhất, thường trực nhất chính là cư dân làng chài.

4. Hồ Ba Hầm

– Vị trí, xuất xứ tên gọi.

+ Hồ Ba Hầm nằm trên dãy đảo Đầu Bê, tại 107 0 07′ 40″ kinh độ Đông và 20 0 44′ 38″ vĩ độ Bắc với diện tích 2,2863km 2 , đỉnh cao119m. Cách Bãi Cháy chừng 30km, là điểm đặt cột mốc giới hạn của khu vực bảo vệ tuyệt đối được UNESCO công nhận biểu tượng Di sản Thiên nhiên thế giới.

+ Hồ Ba Hầm là một hệ thống gồm 03 trũng biển có tiết diện tròn, được thông với nhau từng đôi qua qua một hang luồn hẹp. Vì vậy người ta gọi tên là Hồ Ba Hầm.

– Qúa trình hình thành.

Hồ Ba Hầm là một dạng hang hàm ếch. Do tác động mài mòn của nước biển, các khối đá bị khoét dần tạo ra các ngấn hàm ếch, quá trình hoà tan đá vôi đã làm cho các ngấn hàm ếch càng sâu thêm và mở rộng thành hang động hay mạnh hơn xuyên qua các núi đá vôi vào các phễu Karst ngập chìm mà hiện nay là các hồ nước thuỷ triều.

– Cấu trúc.

Cửa hang đầu tiên dẫn tới hồ số 1 được mở ra bên vách đá bằng phẳng phía Tây Bắc của đảo. Đáy hang là mặt nước thông với dòng hải lưu từ Cửa Vạn chảy vào. Hang dài 150m, rộng 10m và uốn cong tới mức tối sẫm ở giữa hang. Khi thuỷ triều xuống hang cao tối thiểu 1,5m; từ mặt nước xuống đáy ít nhất là 2m. Hang thứ hai, thông vào hồ thứ hai có mặt cắt ngang đồng nhất dài chừng 60m. Hang thông vào hồ thứ ba thì nhỏ hơn và chỉ có thể đi qua bằng các thuyền nan nhỏ.

– Giá trị thẩm mỹ.

+ Hồ Ba Hầm là “đặc điểm tiêu biểu và kì lạ nhất của Vịnh Hạ Long” có sự cuốn hút kì lạ với du khách. Nhũ đá từ nóc hang buông xuống tạo thành những hình thù kì lạ soi bóng dưới mặt nước êm ả trong xanh. Chạm vào nhũ đá nào cũng thấy phát ra âm thanh như tiếng chuông tiếng khánh. Dưới mặt nước trong xanh và sâu thẳm ấy bì bõm tiếng mái chèo khua trong vẻ hoang sơ và tĩnh mịch của thiên nhiên nơi đây.

+ Hồ thứ hai vẫn là thắng cảnh sơn thuỷ hữu tình, mặt hồ phẳng lặng, trong xanh, thoáng mát, vẫn là những nhũ đá lộng lẫy sắc mầu in trong bóng nước, nhưng tất cả đều khác lạ với hồ đầu tiên. Tiếng sóng óc ách vỗ mạn thuyền, tiếng tí tách của những giọt nước rơi … khiến du khách nhẹ nhàng thanh thản.

+ Hồ thứ ba cũng nằm trong hang sâu, rất rộng. ở đây tĩnh lặng đến vô cùng, thỉnh thoảng mới có một con cá ngoi lên đớp mặt nước, làm bạn cùng những nhũ đá buông lơ lửng trên vòm hang.

– Giá trị đa dạng sinh học.

+ Hồ Ba Hầm là nơi có hệ sinh thái đặc trưng của VHL: Hệ sinh thái tùng, áng . Các hồ nước được thông với biển bằng những cửa hang ngầm. Tại đây, môi trường nước ổn định và không có sóng. Đặc biệt rất trong sạch chính vì vậy, hệ sinh vật nơi đây phát triển rất mạnh và mang những nét độc đáo riêng. Các loại sinh vật sống ở đây như sao biển; cá; một số loài thân mềm; vẹm xanh; đồi mồi …, ngoài ra, còn có san hô, rong, tảo, hệ động thực vật đáy, hình thành nên các quần xã vô cùng phong phú.

+ Các đảo đá cao vút, vách thẳng đứng, những thung lũng Karst lớn được hình thành và che phủ những lớp thảm thực vật rừng cây nhiệt đới vô cùng phong phú về số lượng giống loài. Hệ thực vật này có một đặc điểm chung là: loài cây thấp, mọc thành bụi có sức sống mãnh liệt với hình dáng Bonsai rất đẹp.

+ Hồ Ba Hầm Là nơi phát hiện 03 trong 07 loài thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long: hài vệ nữ hoa vàng; cọ Hạ Long; thiên tuế Hạ Long.

5. Động Tam Cung.

– Vị trí địa lý; xuất xứ tên gọi

+ Động Tam Cung nằm trên hòn Mây thuộc dãy Bồ Câu vụng Cài Mây. Dãy Bồ Câu gồm có 4 ngọn núi, hòn Cài Mây là điểm cao nhất. Động Tam Cung nằm ở phía Bắc dãy Bồ Câu cách hòn Mây Đèn 300 mét, cửa động được mở về hướng Tây cách mực nước biển 30m, động Tam Cung cách Bãi Cháy 8 km về hướng Bắc, cách trung tâm Hòn Gai 6 km về hướng Đông bắc. Kinh độ: 107 0 06′ 46″ Vĩ độ: 20 0 52′ 21″ đỉnh cao 158m

+ Sở dĩ gọi là động Tam Cung bởi động được chia ra làm ba ngăn tách biệt, mỗi ngăn động có một vẻ đẹp huyền bí kỳ ảo lộng lẫy như một hoàng cung. Vào thăm động Tam Cung ta cứ ngỡ như đang lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh, vừa xa lạ vừa thân quen với trần thế. Mỗi động là một tác phầm điêu khắc tạo hình hoàn chỉnh của tạo hoá, mang nét đẹp và phong cảnh riêng, chính vì lẽ đó mọi người gọi đây là động Tam Cung.

+ Dấu vết con người đặt chân lên động Tam Cung lần đầu tiên là một nhà thám hiểm người Pháp từ năm 1906. Sau nhiều năm bị lãng quên, năm 1994 ông Phùng Văn Thọ – một dân chài địa phương đã phát hiện trở lại ra động Tam Cung. Tháng 12/1994, động Tam Cung được Công ty Du lịch Hòn Gai nhận quản lý, đưa vào khai thác sử dụng.

– Quá trình hình thành Động Tam Cung

+ Động Tam Cung là một là một loại hang khe nứt ngầm lớn, phát triển theo phân lớp đá vôi, có độ dốc 50 0 . Khối đá dòng và nhũ đá phát triển đã chia khe nứt đơn hang ra làm ba ngăn chồng chéo lên nhau trong một khoảng cao hơn 20m.

– Cấu trúc và giá trị thẩm mỹ Động Tam Cung

Cấu trúc

+ Động Tam Cung là một dạng Karst treo và hở, cửa động nằm ở độ cao 30m so với mặt nước biển. Đây là dạng Karst điển hình rất có giá trị về mặt thẩm mỹ (phần nóc, vách hang động) và có giá trị về địa chất học.

+ Cửa động quay về phía Tây. Cấu trúc cửa động theo kiểu hang dọc chạy sâu theo chiều dài và độ sâu của quả núi. Động Tam Cung được chia làm 3 ngăn chính, mỗi ngăn có một kiểu đáng kiến trúc khác nhau.

+ Không gian của động Tam Cung là không gian mở, động thứ 2 có cấu trúc gần giống như một tam giác cân với một đỉnh là hồ nước ngọt phía cuối ngăn 2. Hồ nước này quanh năm có nước với diện tích khoảng 3m 2 , nước ngọt ở đây được cung cấp bởi nước thiên nhiên ngấm qua khe đá, nền hang được tạo bởi đất hoàng thổ và viên bọt đá kết tủa.

Giá trị thẩm mỹ

+ Dãy Bồ Câu xanh như một hòn ngọc giữa Vịnh Hạ Long. Điểm cao nhất của dãy Bồ Câu chính là Động Tam Cung. Từ xa nhìn vào cửa Động Tam Cung giống như hình một con sứa biển đang bơi. Dãy núi nghiêng mình xuống dòng nước trong xanh, soi bóng qua con đường chữ chi um tùm bóng mát dẫn ta vào đến cửa Động Tam Cung. Cửa động thoáng mát khác hẳn với không khí bên ngoài tạo cho người thưởng ngoạn một cảm giác khoan khoái, từ đây phóng tầm mắt ra xa ta có thể bao quát được một vùng Hạ Long rộng lớn và tuyệt đẹp.

+ Đi qua một khe cửa nhỏ, con đường dẫn ta vào ngăn thứ nhất của động, nơi đây toát lên một vẻ trong trắng tinh khôi, đến đây du khách cảm thấy tách biệt hoàn toàn đối với thế giới trần tục bên ngoài, tất cả ở đây đều tinh khiết, lạ mắt với nhiều hình thù kỳ lạ. Ngay bên lối cửa ra vào, những tấm rèm đá rủ xuống vách động tạo nên một cây đàn đá tuyệt hảo, gõ nhẹ vào những phím đàn này cây đàn sẽ ngân lên những cung bậc khác nhau, lúc trầm lúc bổng, bên cạnh đó là một ông tiên râu trắng phất phơ đang leo núi với chiếc gậy trúc cầm tay đáng vẻ như nhàn, xa hơn chút nữa về phía cuối động ta bắt gặp bộ tam đa trên vách động dành những người tham quan cầu chúc những điều may mắn. ở đây du khách sẽ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác như đang lạc vào chốn tiên cảnh bồng lai, từ trần động bắt gặp một giàn hoa nhô ra 2 nụ quỳnh trắng ngần đang chúm chím nở

+ Qua một khe cửa nhỏ, không gian chợt bừng mở ra ta vào ngăn động thứ 2. Toàn ngăn 2 là một cảnh hoàng cung thâm nghiêm, uy nghi, lộng lẫy. Phía bên phải động là một vị thần động, tay cầm cây gậy trúc nét mặt nghiêm trang đang kiểm soát tâm hồn (?) du khách, giúp việc đắc lực cho thần động là một chú chó ngao ở tư thế ngồi trên một mỏm đá, phía cuối động là hồ tiên nước xung quanh tràn trề, trong xanh và mát lạnh. Phải chăng đây là nơi dành cho những nàng tiên đêm đêm từ trên trời hạ giới, sau khi vui thú cảnh đẹp trần gian rồi quay về đây tắm mát trước khi về trời.

+ Qua hồ tiên tới ngăn động thứ 3, ở đây ta bắt gặp những hình ảnh thực của những câu chuyện truyền thuyết. Phía cuối động ta bắt gặp cây gậy chống trời của Tôn Ngộ Không, cây gậy tròn và thẳng tắp như có bàn tay ai đẽo gọt, những hoa văn chạm nổi và chìm như được chạm khắc công phu với nhiều hình tượng khác nhau. Bên cạnh đó là một chú khủng long khổng lồ đang vươn dài chiếc đầu ra đón khách và đây nữa một chú cá mập với hàm răng sắc nhọn đang ngoác chiếc mồm rộng như đe doạ. Phía bên trái là một chú hải cẩu đang lim dim nằm ngủ, vào ngăn này ta cảm giác như đi vào một bảo tàng động vật sống động và diệu kỳ. Nơi đây còn thể hiện nét đẹp của tình yêu lứa đôi bất diệt với hình tượng đôi bàn tay khát vọng của một đôi trai gái, đang dang ra níu kéo, giằng co như đang đấu tranh với những thế lực ngăn trở tình yêu của họ.

+ Tóm lại, dưới bàn tay đẽo gọt, chạm khắc công phu của tạo hoá toàn bộ động Tam Cung hệt như một thế giới vô cùng sống động, không chỉ ở những tác phẩm điêu khắc, những tượng đài, những bức chạm nổi thiên nhiên sống động, mà còn tạo ra những khối kiến trúc độc đáo làm nên phong cách rất riêng của động Tam Cung.

– Giá trị đa dạng sinh học

+ Nơi đây quần tụ chủ yếu một số loại thực vật nhiệt đới, thảm thực vật ở đây tương đối mỏng nhưng có sự sống rõ rệt. Các loại cây lúp xúp, tán thấp thân nhỏ chịu hạn tốt, chúng mọc ở các khe nứt của đá hoặc ở nơi được phong hoá bồi tụ, các loại cây chủ yếu là trúc đá, dứa dại, si, xoan rừng, phong lan, thiên tuế, vạn tuế, vú bò, ngũ da bì… Nhìn chung đây là những loài cây nhỏ chỉ có giá trị làm cảnh (phong lan, vạn tuế, thiên tuế,…) hoặc có giá trị chữa bệnh: (đơn xương, hậu xương, ngũ da bì…).

+ Đây là nơi tập trung một số loài thực vật biển phổ biến như ngành san hô biển, rong, tảo, đay… là những loài thực vật có mặt hầu hết mọi nơi trong Vịnh Hạ Long, đặc biệt san hô và hà là 2 loại phát triển mạnh và chiếm ưu thế.

+ Dãy núi Bồ Câu là nơi cư ngụ của rất nhiều loài chim khác nhau thuộc họ lông vũ, chúng ở và làm tổ tại các khe đá và cây cối trên đảo, đây còn là điểm của một số loài chim di cư về đây tránh rét. Các loài chim phổ biến là: sáo đà, diều hâu biển, quạ đen, cắt, hải âu… ngoài ra còn có một số loài bò sát như rắn, tắc kè, kỳ đà, trăn biển… cũng quần tụ sinh sống tại vùng đảo này.

+ Động vật biển khu vực động Tam Cung cũng như ở các nơi khác trên Vịnh Hạ Long, nơi đây quần tụ rất nhiều loài phong phú và đa dạng như cá (gần 1000 loài), mực, tôm, cua, sò, ốc, hải sâm…, đây là những loài có giá trị kinh tế lớn và có giá trị dinh dưỡng cao.

Hạ Long Lịch Sử – Hà Hữu Nga, Ban quản lý Vịnh Hạ Long

(1) Hương ước làng Giang Võng, năm 1942

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: