Tiềm năng Hạ Long phần 2

Chuyên đề II: giới thiệu tuyến du lịch từ cảng tầu cái dăm – hòn dều – đảo tuần châu – động thiên cung – hang đầu gỗ – khu vực làng chài ba hang – hòn đỉnh hương – hòn gà chọi – trở về cảng tầu

 

 

 

A. Nội dung hướng dẫn

1. Cảng tàu du lịch Cái Dăm

– Cảng tàu du lịch Cái Dăm trên bản đồ còn gọi là Ghềnh Nước Ông, nhân dân điạ phương quen gọi là Bến Cá.

– Từ 1996 trở về trước, bến tàu du lịch nằm ở khu vực Cầu Mát (Bến phà hiện nay). Bến tàu này vừa gây ảnh hưởng đến môi trường Vịnh, vừa ảnh hưởng tới cảnh quan khu vực.

– Trước tình hình đó, UBND tỉnh Quảng Ninh giao cho Sở Giao thông – Vận tải Quảng Ninh phải chuyển dời bến tàu về khu Cái Dăm, xây dựng mới thành cảng tàu khang trang, lịch sự, sạch đẹp và đưa vào sử dụng từ 1/6/1997 như bây giờ. Hiện nay, cảng tàu Cái Dăm có khoảng 300 tàu, thuyền lớn nhỏ từ 15 đến 82 chỗ ngồi, có thể đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách. Ngoài ra, còn có các loại Canos hiện đại, tốc độ cao phục vụ những quý khách tiết kiệm thời gian và ưa mạo hiểm.

– Cảng tàu du lịch Cái Dăm nay đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của hàng triệu du khách thăm .

2. Đảo Rều. (1)

– Đảo Rều là một hòn đảo nhỏ, xinh đẹp trong số gần 2000 hòn đảo của Vịnh Hạ Long. Diện tích khoảng 0.0425km2, cách bến tàu trên 500 mét, với một hình dáng đẹp, vị trí thuận lợi cho việc phát triển du lịch. Ngay từ năm 1997, Công ty liên doanh quốc tế Hoàng Gia (Đài Loan) đã khởi công xây dựng Vườn động vật trên đảo này. Công trình được hoàn thành và mở cửa đón khách từ ngày 2/9/1998.

– Đảo Rều có những loại động vật quý hiếm như: Đại bàng, Gà cườm, Gà cổ đỏ, Hươu, Vượn đeo kính….

3. Đảo Tuần Châu

– Vị trí, diện tích.

Đảo Tuần Châu nằm ở phía Tây , cách trung tâm thành phố Hạ Long chừng 10km. Đảo hiện có diện tích khoảng 400 ha với hơn 1.500 dân, họ sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới và làm nông nghiệp.

– Nguồn gốc tên gọi

Cùng với việc mở thương cảng Vân Đồn, nhà Lý rồi nhà Trần đã đặt ở đây Đồn Suất Ti Tuần để thu thuế đồng thời lập ra một đơn vị hành chính cấp Châu do một Tri Châu cai quản. Để phân biệt Đồn Suất Ti Tuần ở đây với các nơi khác, người ta đã lấy từ cuối của cụm từ Suất Ti Tuần là tuần gắn với tên đơn vị hành chính là Châu thành tên Tuần Châu để chỉ hòn đảo này (1) .

– Giá trị văn hoá, lịch sử

+ Tuần Châu là một trong những điểm cư trú của người tiền sử. Từ năm 1938 người ta đã tìm thấy trên đảo những di chỉ khảo cổ thuộc giai đoạn muộn của Văn hoá Hạ Long cách ngày nay khoảng 3500 – 2500 năm ( ở xóm Nam; xóm Đông; xóm Kèo)

+ Ngày 30.3.1959 đảo được vinh dự đón Bác về thăm. Trong cuộc nói chuyện với cán bộ nhân dân trên đảo, thấy những tiềm năng về rừng biển nơi đây, Bác đã căn dặn: Hãy biến Tuần Châu thành Ngọc Châu . Trên đảo hiện còn căn nhà nơi Bác đã dừng chân, nghỉ ngơi.

– Các loại hình du lịch, vui chơi giải trí

+ Năm 1997 Công ty Âu Lạc đã xây dựng một con đường dài 2.154m, nối đảo Tuần Châu với đất liền, đồng thời xây dựng một số hạng mục công trình như: Câu lạc bộ biểu diễn cá heo, hải cẩu, sư tử biển…; Khu phố ẩm thực Việt Nam; Khu vui chơi bãi biển; Khu vui chơi văn hoá; Trung tâm thương mại giải trí; Khu biệt thự cao cấp 5 * …

+ Loại hình dịch vụ phong phú, hấp dẫn: Biểu diễn cá heo, hải cẩu, sư tử biển; ca múa nhạc; xiếc người, xiếc thú; thưởng thức nghệ thuật nấu ăn tại khu phố ẩm thực…. Trong tương lai Công ty Âu lạc sẽ triển khai một số hạng mục công trình mới như khách sạn 5 * , 3 * ; Trung tâm hội thảo quốc tế; hệ thống sân Golf và Tuần Châu sẽ trở thành một trung tâm du lịch mang tầm cỡ quốc tế, thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước. Tuần Châu đang dần trở thành Đảo Ngọc như Bác Hồ mong muốn.

4. Đảo Đầu Gỗ

– Vị trí, đặc điểm

+ Đảo Đầu Gỗ Nằm ở phía Tây , cách cảng tầu du lịch khoảng 4km, cách trung tâm thành phố Hạ Long chừng 10km. Đảo được xác định bởi 107 0 00 / 54 // kinh độ Đông và 20 0 54 / 28 // vĩ độ Bắc. Đảo có diện tích 695.000m 2 với đỉnh cao 189m. Dãy đảo có hình dáng như một khúc gỗ khổng lồ nên đảo được đặt tên là Đầu Gỗ.

+ Đảo Đầu Gỗ là một trong ba điểm hình tam giác giới hạn phía Đông – Bắc của khu vực di sản thế giới đã được UNESCO công nhận, trên vách đảo được đặt biểu tượng Di sản thế giới.

+ Cho đến nay, người ta đã phát hiện được ba hang động ẩn giấu trong lòng đảo, đó là hang Đầu Gỗ, động Thiên Long, động Thiên Cung. Đây là những hang động vào loại đẹp nhất vịnh. Hiện nay, hang Đầu Gỗ, động Thiên Cung đã được tôn tạo để đón khách du lịch.

+ Hang Thiên Long nằm ở độ cao khoảng 45 – 50m so với mực nước biển, là một trong những di chỉ khảo cổ học trên Vịnh Hạ Long. Cửa thứ nhất của hang quay về hướng Tây Bắc. Cửa thứ hai đối diện cửa Tây Bắc khoảng 100m, quay về hướng Đông nam nhìn xuống một trũng biển nhỏ. Thiên Long là một hang lớn có cấu trúc phức tạp, nhiều ngách, nhiều tầng. Trong hang người ta đã tìm thấy tầng văn hoá chứa đầy vỏ ốc nước ngọt Melanina và vỏ ốc núi Cyclophorus, ốc suối, hến sông, vỏ sò, vỏ trai… nhưng không hề thấy một vỏ nhuyễn thể nước mặn nào. Các nhà khảo cổ học cho rằng di chỉ khảo cổ này thuộc phạm vi Văn hóa Soi Nhụ có niên đại 25.000 đến 7.000 năm cách ngày nay.

+ Khu vực đảo Đầu Gỗ là một trong 07 điểm đã được khảo sát về giá trị đa dạng sinh học. Theo các nhà khoa học, có thể nói khu vực đảo Đầu Gỗ (xét về góc độ đa dạng sinh học) là một Hạ Long thu nhỏ. Nó hội tụ đủ hai hệ sinh thái lớn: Hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới; Hệ sinh thái biển và ven bờ. Người ta đã tìm thấy ở đây những loài thực vật đặc hữu của Hạ Long như: Thiên tuế Hạ Long; Khổ cử đại tím; Cọ Hạ Long; Khổ cử đại nhung…

– Biểu tượng Di sản thế giới

Hiện nay, Ban Quản lý đã xây dựng và đặt 3 biểu tượng Di sản thế giới làm cột mốc giới hạn của khu vực bảo vệ tuyệt đối được UNESCO công nhận. Đó là:

+ Đảo Đầu Gỗ ở phía Tây

+ Đảo Cống Tây ở phía Đông

+ Đảo Đầu Bê ( thuộc khu vực hồ Ba Hầm) ở phía Nam.

Biểu tượng Di sản thế giới là một hình tròn bên ngoài tiếp nối với hình vuông bên trong. “ … Biểu tượng này tượng trưng cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Di sản văn hóa và Di sản thiên nhiên, hình vuông ở giữa là cái do con người tạo nên, vòng tròn tượng trưng cho thiên nhiên, hai yếu tố đó liên kết chặt chẽ, thống nhất nhau. Biểu tượng có hình tròn giống như thế giới và nó đồng thời cũng là biểu tượng của việc bảo vệ” (1)

5. Động Thiên Cung *

– Vị trí, đặc điểm.

+ Năm 1993, sau khi phát hiện ra động này, động được Ban Quản lý di tích thắng cảnh Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Quảng Ninh đặt tên là hang Bạch Tuyết, sau đổi tên thành động Thiên Cung – là tên gọi chính thức hiện nay. (Thiên Cung theo nghĩa của âm Hán – Việt có nghĩa là cung điện trên trời).

+ Động Thiên Cung là một động đẹp có giá trị thẩm mỹ cao, cấu trúc như một cung điện nguy nga, đồ sộ, căn cứ vào hình dáng cấu trúc động mà người ta đặt tên.

+ Động Thiên Cung là một động được mở trong lòng dãy đảo Đầu Gỗ về phía Bắc, cách hang Đầu Gỗ 150m, có diện tích hơn 3000 m 2 , động nằm ở toạ độ:

Phía Bắc cách bến tàu du lịch 6km

Phía Nam cách hòn Đỉnh Hương 1km

Phía Đông cách Bến Đoan 7km

Phía Tây cách khu vực Ba Hang 2km  

– Quá trình phát hiện và quản lý động Thiên Cung

Dựa vào những văn bản và dấu tích trên vách hang động:

+ Năm 1901 một người Pháp đã đặt dấu chân đầu tiên lên hang. Năm 1946, người thứ hai lên động. Năm 1993, ông Lưu Văn Lập (người Hạ Long chở khách đi thăm Vịnh) đã tìm ra cửa động Thiên Cung.  

+ Năm 1994, động Thiên Cung được giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Đông Bắc quản lý.  

+ Cuối năm 1994 động Thiên Cung lại được tạm bàn giao cho Công ty Vận tải biển Quảng Ninh quản lý khai thác.

+ Năm 1997 sau khi Ban quản lý được thành lập một thời gian ngắn, động Thiên Cung được bàn giao trở lại cho Ban quản lý trực tiếp quản lý đầu tư tôn tạo và khai thác phục vụ du khách đến tham quan.

– Quá trình hình thành hang động:

+ Theo lịch sử phát triển địa chất của và các vùng lân cận đang chìm ngập trong vùng biển tiến, vào cuối kỷ Paleozoi ở kỷ Cacbon và Pecmi.

+ Vào cuối niên đại Paleogen ở kỷ Cacbon và Permi cách ngày nay khoảng 300 triệu năm, vùng biển Hạ Long và các vùng biển lân cận đang chìm ngập trong vùng biển tiến. Sự biến đổi này đã làm cho lòng biển Hạ Long phát triển nhiều cổ sinh vật chứa nhiều Canxisilic. Một quá trình lý hoá và tích tụ vật chất kéo dài tạo nên các trầm tích đá Cacbonat khổng lồ, chiều dày đạt tới gần hai ngàn mét. Cuối kỷ Pecmi thời kỳ trầm tích lục địa ven rìa tạo nên đá Silic. Qua quá trình biến đổi vận động uốn nếp tiếp theo của vỏ trái đất, dạng bằng phẳng nguyên thuỷ của đá Cacbonat bị phá huỷ hầu như hoàn toàn và kéo theo đứt gẫy, phân cách, nâng địa hình lên thành đảo, núi (thời kỳ này là kỷ Jura, cách ngày nay khoảng 150 triệu năm).

+ Trải qua quá trình biến đổi chuyển động không ngừng của trái đất, quá trình lý hoá lâu dài của địa hình Karst và sự xâm thực của quá trình biển tiến, biển lùi, mưa gió mài mòn cùng các dòng đối lưu ngầm.

+ Như vậy, quá trình hình thành động Thiên Cung là quá trình hình thành trải qua bao biến động của thiên nhiên.

– Cấu trúc động Thiên Cung

+ Động Thiên Cung là một động có cấu trúc dọc và hai tầng. Tầng thứ nhất có cửa mở thấp hơn tầng thứ hai là 7m. Thiết diện động hình chữ nhật. Hai tầng được thông với nhau bằng cửa mở trong lòng động. Nếu tính từ cửa động đến đáy động xác định trên địa bàn thì động Thiên Cung nằm theo hướng Bắc – Nam.

+ Động Thiên Cung là một động có dạng cấu trúc hình Karst hở và treo của vùng nhiệt đới, một hình ảnh của dạng đại hình Karst miền Bắc Việt Nam. Chính vì vậy, động Thiên Cung là một đề tài hấp dẫn cho nhiều ngành khoa học nghiên cứu như: Ngành địa mạo học, ngành địa lý học, ngành thủy văn – địa chất, ngành sinh vật học;

+ Cửa ngăn 1: có kích thước lớn, hình vòm nửa cung tròn, bán kính là 1,56m, chỗ rộng nhất của cửa là 8,7m. Cửa cách mực nước biển là 20m theo hướng Bắc.

+ Cửa ngăn 2: Kích thước nhỏ hơn, cấu trúc hình tứ giác chỗ cao nhất là 1,15m, chỗ rộng nhất đo dược là 1,45m, cửa được mở quay về hướng Bắc trên vách đảo cheo leo và dựng ngược. Cửa động vẫn còn nguyên dấu vết hoang sơ của tự nhiên.

+ Động có chiều cao là 27m so với mực nước biển

+ Động Thiên Cung là một động có quy mô lớn, dạng túi. Chỗ rộng nhất là 35m, chỗ dài nhất (tính từ cửa động đến đáy động) là 260m, vòm trần cao khoảng 25m.

•  Nền động : Sâu 4m so với cửa vào, có nhiều ô trũng cắt xe do sụt lún địa chất. Trũng sau thứ nhất cách cửa vào là 4m, diện tích khoảng 12m2 sâu 1,50m. Ô trũng 2 cách ô trũng 1 là 2m, có diện tích nhỏ hơn, sâu 0,7m. Ô trũng 3 (có đường phân cách bảo vệ) chu vi miệng 17m, sâu 2,7m.

Cấu tạo địa chất nền động: Gồm đất hoàng thổ và đá gốc màu gan gà. Diện tích nền động Thiên Cung ngoài những trũng sâu còn có khối lượng cột, măng đá khá lớn và được phân bố dày đặc phía đáy động. Măng cao nhất có kích thước 15m, măng thấp nhất có kích thước 20 – 30cm. Cột đá động Thiên Cung có cấu tạo đa dạng: có cột hình thuôn (dưới to trên nhỏ), có cột hình chóp ngược dưới nhỏ trên to), nối từ vòm hang đến nền hang, cao khoảng 25 – 27m.

•  Vách động : Bao quanh là rèm nhũ đá được rủ từ trên vòn trần xuống, màu trắng ngà, màu hoàng thổ hay lóng lánh như kim cương (có sự phản quang). Kích thước dải nhũ lớn nhất từ trần hang xuống là 15m. Ngoài những thạch nhũ riêng rẽ, hai vách (Đông và Tây động) còn có dải nhũ dính kết vào nhau bằng một màng đá mỏng như rèm đá.

Vách động phía Đông có 3 cửa mở: cửa mở thứ nhất cách cửa vào là 12m, có dạng hình chữ nhật, cao 4m, rộng 2m, nằm ở độ cao 3,6m so với lòng động thông với bên ngoài. Cửa thứ 2 cách cửa thứ nhất là 50m, theo một ngách thông qua vú tiên về phía hang Đầu Gỗ gọi là cổng trời, quy mô lớn hơn cửa 1, độ cao hơn động khoảng 3m. Cửa 3 cách cửa 2 là 17m về phía đông, quy mô cửa nhỏ: 1,2 x 1,5m. Cửa 4 nằm về phía vách phải động (Tây) thông ra ngoài kích thước lớn, cấu trúc vòm tròn: chỗ rộng nhất là 12m, chỗ cao nhất tính từ nền ngách thông tới vòm trần là 3,5m.

•  Trần động : Cũng như vách động, 2/3 vòm động phía sau là dải kết tủa, dải nhũ xuống lòng động, dải có kích thước lớn nhất là 6 -7m, dải có kích thước nhỏ nhất đang kết tủa.

Quá trình hình thành thạch nhũ động Thiên Cung là quá trình bồi tụ đặc trưng của quá trình Karst trong hang động. Khi nước chảy qua các khe nứt tới trần hang gặp phải chướng ngại vật, vì vậy ở đây có sự trao đổi giữa không khí trong hang và không khí tự do bên ngoài, đó là nguyên nhân làm cho Ca(HCO 3 ) 2 chuyển thành CaCO 3 kết tủa xung quanh nơi giọt nước rơi. Cứ thế, năm này qua năm khác, nhũ đá được hình thành. Đôi khi các nhũ đá được hình thành từ một kẽ nứt trên trần hang và liên kết với nhau tạo thành rèm đá.

Tầng của động Thiên Cung, tầng 1 là một hang đất có quy mô gần bằng động chính, Cấu trúc vòm được thông với động chính bằng lối lên qua trụ kim cương. Chỗ rộng nhất của động là 25m, chiều dài đo từ cửa động đến đáy động là 70m. Trong lòng động không có nhũ đá hay măng đá, chỉ có những khối đá lớn. Đường thông lên động 2 là một ngách nhỏ về phía Tây, cửa ngách kích thước lớn nhất là 1,50m x 1,20m, độ ẩm trong hang cao, có nhũng trũng nước nằm ở đáy động.

Cấu tạo địa chất của động Thiên Cung: Là dạng động Karst hở và treo, qua quá trình phong hoá có dạng công thức dưới đây:

CO2 + H 2 O =H 2 CO 3

CaCO 3 + H 2 CO 3 =Ca(HCO 3 ) 2

– Thảm thực vật đảo Đầu Gỗ và trũng biển Thiên Cung: với cấu tạo địa hình Karst, thực vật đảo Đầu Gỗ phần lớn là thân gỗ nhỏ và thân leo: gỗ nhỏ: xầm, gụ, si xanh, thông đá, trúc, tre… Thân leo: bìm bìm, … rong, tảo, san hô, thực vật ngập mặn… Động vật rừng: tắc kè, sơn dương, khỉ chim, bò sát… Cá, tôm, ốc, ghẹ, sò…

– Giá Trị thẩm mỹ

+ Thiên Cung là một động đẹp có giá trị thẩm mỹ cao. Từ bến tàu du lịch Bãi Cháy, du khách bồng bềnh trên sóng nước mênh mông trời biển, bỗng chốc biển thu hẹp lại, ôm gọn bởi dãy đảo Đầu Gỗ. Đường lên động là một tiểu lộ bám theo vách núi luồn lách trong là rừng, cheo leo lưng chừng trời dẫn đến động Thiên Cung.

+ Động Thiên Cung có quy mô lớn, khoáng đạt với những nhũ đá đẹp, lộng lẫy, mang hình hài của thế giới con người và thế giới động vật khơi gợi trí tưởng tượng vô hạn của con người. Người ta thường chia động Thiên Cung thành ba ngăn. Ngăn thứ nhất: có hình ảnh của chú phương hoàng đang khát vọng được bay lượn trên bầu trời cao vút, trên cánh rừng rậm rạp…; hình ảnh của con rồng uy nghi, dũng mãnh nhưng, kém phần dữ tợn nhưng lại đang phủ phục để đón chào lữ khách… Những cột đá chạm trổ công phu sừng sững, vững chãi như được thiết kế để đỡ trần hang nặng nề.

+ Vào buổi chiều ngày nắng đẹp, ánh sáng mặt trời rực rỡ chiếu qua ô cửa hang, hơi ẩm trong hang bốc lên, tao ra một thứ ánh sáng lung linh, huyền bí, mềm mại như bảy sắc cầu vồng… Ngăn thứ hai: Hình ảnh “chúa sơn lâm” oai hùng, khí phách như đang tung bờm để thể hiện sức mạnh, quyền uy đồng thời như cũng muốn thể hiện sự “thống trị” tuyệt đối đối với muôn loài vật. ở ngăn này, những bức tường đá được “đấng tạo hóa” trang trí bằng nhiều hoa văn, chạm khắc, đường viền khác nhau. Dường như, những đường nét kiến trúc động này đang thách thức về sự sáng tạo cũng như sự tinh xảo, chính xác đối với ngành kiến trúc hiện đại…Hai vách động là hai bức phù điêu hoành tráng được chạm nổi trên nền rèm đá với các cấu trúc khác nhau như có dụng ý của trời đất. Nếu đứng từ dưới nhìn lên vách phía Đông của động, các dải nhũ được đan quyện vào nhau chỗ mau, chỗ thưa huyền ảo bồng bềnh như chốn đào nguyên. Đặc biệt, ở 4 góc có 4 trụ đá cân đối, vững chắc và người đời đã đặt cho chúng với những cái tên khác nhau: Cột Trụ Rắn, cột Trụ Voi, cột Kim Cương, trụ Thảo Mộc. Ngăn thứ ba, bên dưới, hình ảnh hai con vật: con voi và con hổ đang nằm phục như một minh chứng cho mô típ trang trí cổ Đông Phương: Voi chầu, hổ phục . Xa xa là cá hình hài tiên nữ được chạm bằng những khối nhũ đá tán sắc kỳ ảo như đang bay lượn múa hát. Càng đi sau vào trong động ta càng ngỡ ngàng: bên cạnh suối tiên róc rách chảy là hai khối thạch nhũ màu trắng ngà được xếp đặt làm ta nhớ đến truyền thuyết Ngưu Lang – Chức Nữ với tâm trạng khắc khoải đợi chờ. Song cũng có người lại cho rằng, đây là một hình tượng của Ađam và Eva sau khi ăn trái cấm trong “vườn địa đàng” và bị Chúa trừng phạt. Phía Tây động và đáy động là cả một bức tranh đồ sộ với những hình hài sống động như: voi, ngựa, trâu bò, … như chính bên ngoài trần thế. Ngước lên trần động, ta bàng hoàng sửng sốt như lạc vào cõi tiên. Trên đỉnh khối thạch nhũ đồ sộ được bố trí phía trái của động, cao sát vòm trần màu trắng đục có điểm kim tuyến, là hình hài Ngọc Hoàng thượng đế đang ung dung ngắm cảnh đào nguyên. Dưới chân hình tượng Ngọc Hoàng là hình ảnh long chầu, miệng há rộng, trong miện là viên ngọc lưu li màu trong suốt. Men theo đáy động qua suối tiên, ta ngỡ ngàng trước sự tạo hoá kỳ diệu, đó là vú mẹ Âu Cơ: bầu sữa căng tròn chiếm một diện tích lớn trong lòng động, gợi cho ta nhớ về truyền thuyết Âu Cơ – Lạc Long Quân, nguồn gốc của dân tộc Việt Nam.

+ Qua Vú tiên ta bị che khuất tầm nhìn bởi khối thạch nhũ đồ sộ, sắc màu lung linh huyền ảo, đó là trụ chống trời (còn gọi là trụ Kim Cương). với đường nét chạm khắc khoẻ khoắn, chân đế được mở rộng tạo cho động Thiên Cung có một thế vững chãi hơn. Đi trong động Thiên Cung ta như lạc vào một thế giới khác hư thực đan xen, chứa đựng những câu chuyện dân gian. (1)

+ Động Thiên Cung còn là đề tài nghiên cứu quan trọng cho các nghành như hang động học, khảo cổ học, khí tượng học, cổ sinh học….

+ Động Thiên Cung hiện nay có giá trị thẩm mỹ cao, nếu chúng ta biết bảo tồn và tôn tạo quy hoạch đúng, thì động Thiên Cung sẽ là một điểm tham quan tiêu biểu nhất trong các tuyến điểm tham quan .

6. Hang Đầu Gỗ.

– Vị trí, đặc điểm

+ Nằm trong dãy đảo Đầu Gỗ, cách động Thiên Cung khoảng 300m, về phía Đông, là một trong những hang động được phát hiện sớm trên . Diện tích khoảng 5000m 2, cửa hang rộng 17m, cao khoảng 12m. Hang Đầu Gỗ nằm ở độ cao 27m so với mực nước biển, cùng độ tuổi thành tạo với động Thiên Cung- thời Pleixtocene muộn, cách ngày nay khoảng 2 triệu năm.

+ Xuất xứ tên gọi hang Đầu Gỗ

Có ba cách giải thích khác nhau:

* Thứ nhất: Theo truyền tụng của người dân địa phương và các cụ cao tuổi thì hang cũng có tên là hang Giấu Gỗ (sau gọi chệch thành Đầu Gỗ) vì nó gắn với câu chuyện lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông thế kỉ XIII của vua tôi nhà Trần là nơi quân sĩ nhà Trần đã cất giấu những chiếc cọc gỗ trước khi đem cắm xuống lòng sông Bạch Đằng (Yên Hưng) để xây dựng trận địa cọc tiêu diệt binh thuyền giặc. Câu chuyện này đã lý giải cho cái tên thuần Việt độc đáo của hang đồng thời nhắc nhở mọi người nớ lại sự kiện chiến công oanh liệt của quân dân thời Trần chống xâm lược Nguyên Mông cách đây hơn 07 thế kỉ. ngày nay người dân vẫn lưu truyền câu ca dao:

“Hồng Gai có núi Bài Thơ

Có Hang Giấu Gỗ có chùa Long Tiên”

* Thứ hai: Dãy Đầu Gỗ có hình cánh cung tạo ra trước hang Đầu Gỗ một vụng kín gió, nên ngư dân trong vùng thường tụ họp về đây trong những ngày giông bão, hoặc sau thời gian đánh bắt, họ thả neo sinh sống đông đúc và sửa chữa đóng lại thuyền bè tại đây nên có nhiều mẩu gỗ sót lại, có lẽ tên hang Đầu Gỗ đã được hình thành từ sự việc này. Vì vậy chúng tôi cho rằng giả thuyết tên gọi nà là phù hợp

* Thứ ba: Hang nằm trên dãy đảo mà trông xa có hình dáng tựa đầu một cây gỗ khổng lồ nên căn cứ vào hình dáng của đảo mà người ta đã đặt cho hang là Đầu Gỗ. Đây là cách đặt tên thông dụng đối với hầu hết các đảo đá trên .

•  Quá trình tu bổ, tôn tạo :

Vào năm 1999, Ban Quản lý đã hoàn thành việc tu bổ tôn tạo hang Đầu Gỗ, xây dựng hệ thống cầu, đường hoàn chỉnh để đưa vào sử dụng phục vụ du khách cho đến ngày nay. Trên nguyên tắc tôn tạo nhưng không ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên và để phù hợp với cấu trúc hang và tên gọi, Ban Quản lý đã tạo ra những hành lang bằng gỗ để thuận tiện cho du khách đi lại, đồng thời không phá vỡ cảnh quan của hang.…

Cấu trúc và giá trị thẩm mỹ .

Quá trình hình thành hang Đầu Gỗ giống như động Thiên Cung.

Giá trị thẩm mỹ.

+ Hang Đầu Gỗ như tập trung được một quần thể kiến trúc cổ xưa, được người phương Tây gọi là “động của các kỳ quan”. Hang Đầu Gỗ toát ra một vẻ đẹp cổ kính, hoang sơ và tĩnh mịch với nhiều cột đá, trụ đá, măng đá nhỏ nhắn, cao vút như muốn vươn tận trời xanh…

+ Hang Đầu Gỗ có hệ động thực vật đa dạng phong phú. Do có cửa hang mở rộng, độ ẩm trong lòng hang cao, cộng với sự tác động của ánh sáng mặt trời nên có thể thấy ngay sự phát triển đa dạng của hệ thực vật, đặc biệt là rêu, cây dương xỉ và cả cây thân gỗ… Đây là đặc điểm khác biệt lớn so với nhiều hang động khác trên

+ Tự hang này chia thành 3 ngăn. Ngăn thứ nhất, hệ thống nhũ đá có nhiều hình ảnh quen thuộc với cuộc sống: sư tử, trăn, rùa và thậm chí cả hình ảnh đôi gà chọi… đặt ra một câu hỏi: Phải chăng đây là xưởng chế tác còn dở dang của tạo hóa hay là sự sống trên đất Việt này là mãi mãi, bất tử? Phải chăng măng đá lớn cao chạm trần hang như hình ảnh của một người mặc áo choàng uy nghi kia chính là hiện thân của Đấng tạo hoá? “ Cái vẻ đẹp thiên hình vạn trạng kia không cái nào không sinh động, không cái nào không huyền diệu. Thế thì ai đã chủ trương? Thế thì ai đã sắp đặt!”. Trên vách đá, một hình ảnh con quái vật hung hăng như muốn tiêu diệt tất cả sự sống đang tồn tại, sinh sôi. Đá đã cho con người một triết lý sâu sắc: sự sống luôn luôn tồn tại trước bất cứ một thế lực ghê gớm nào. Cái Thiện luôn chiến thắng Cái ác.

+ Ngăn thứ hai, bắt đầu bằng một bức tranh hoành tráng – hình ảnh của với những đảo đá lô nhô trên sóng nước cũng được khắc hoạ rõ nét trên bức tranh này. Ngăn thứ thứ ba, hình ảnh những cột đá khổng lồ mà không thô nhám, cứng nhắc, vừa xinh xắn, mềm mại. Những cột đá tựa như như hệ thống mái vòm nhà thờ Châu Âu kiến trúc theo kiểu Gôtích thời Trung cổ. Những cột đá đó làm cho người ta liên tưởng đến nhiều công trình kiến trúc vĩ đại của con người: đền Ăngcothom, Ăng co vát, hoặc ai đó nhớ đến tòa tháp nghiêng Piza ở nước ý… Và, cột tháp cao vút kia làm cho chúng ta hình dung ra chúng như ngọn bút lông gà của biết bao thế hệ cha ông ta đã từng “làm thơ và đánh giặc…” Bên cạnh, xuất hiện cột đá bị sụt gãy nằm ngổn ngang, điều này chứng tỏ có sự biến động về địa chất và cũng vì đó mà người ta thường trông vào “sự điêu tàn” đó để tưởng nhớ về một thời đại vàng son đã qua đi, một hào quang không bao giờ trở lại… Một thế giới hóa đá đưa con người trở về với quá khứ sâu thẳm của lịch sử, một thế giới biểu tượng chứa đựng những lớp cắt, những giá trị văn hóa truyền thống, những nền văn minh… của lịch sử loài người.

“C ây đa, bến nước …”, một hình ảnh quen thuộc đối với người dân Việt Nam. Hình như tạo hóa cũng rất am hiểu nền văn hóaViệt Nam mà ban tặng cho chúng ta món quà này. Một cây đa xanh tươi, rủ bóng bên cổng làng. Cây đa, bến nước, cổng làng là một không gian văn hóa gắn bó thân thiêt đối với cuộc sống, một biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng cư dân lúa nước Việt Nam. “Cây đa, gốc cây có quán nước còn là nơi dừng chân, gặp gỡ của những người đi làm đồng, những khách qua đường, … Nhờ khách qua đường, gốc cây đa trở thành cánh cửa sổ liên thông với thế giới bên ngoài” (1) . Còn cổng làng là nơi tiếp nhận con người và văn hóa từ các miền khác đến… Cổng làng còn là biểu tượng cho sự trói buộc cũng như sự giải thoát cho con người Việt Nam thời phong kiến, đặc biệt là người phụ nữ…

– Sự kiện lịch sử

+ Trong chuyến thăm vào tháng 10 năm 1957, Hồ Chủ Tịch đến hang Đầu Gỗ. Tại đây, Bác đã nói với mọi người đi cùng: “ Cảnh đẹp một người không thể truyền lại cho nhiều người. Tất cả các chú phải cùng Bác thưởng thức” (1)

+ Tấm bia đá:

Năm 1922, trong một lần thăm hang, vua Khải Định cảm xúc trước vẻ đẹp nơi đây, ông đã sai dựng tấm bia đá tại ngay phía trái cửa hang. Tấm bia cao 1,6mét, rộng 0,9 mét, hoa văn trang trí đời Nguyễn. Nội dung tấm bia là ca ngợi vẻ đẹp của hang.

7. Khu vực Chó Đá; Đỉnh Hương; Gà Chọi; làng chài Ba Hang.

a. Hòn Chó Đá

Nằm trên luồng tàu du lịch đến hòn Đỉnh Hương, gần làng chài Ba Hang là hòn Chó Đá. Hòn Chó Đá cao khoảng 8m nằm dưới chân một ngọn núi cao, hình dáng giống một chú chó khổng lồ trầm tư, tĩnh lặng như đang nghiền ngẫm điều gì đó. Trong tâm thức của người Việt chó là con vật gần gũi, gắn bó và rất trung thành (1) . Bà con dân chài nơi đây coi đó là hình tượng bảo vệ cho sự bình yên của cộng đồng.

Xem hòn Chó Đá, một lẫn nữa, có thể nói là thế giới của động vật…hóa đá. Từ con cóc, con gà, con mối, con rùa, con thiên nga… mỗi con mang một hình dáng, vẻ đẹp riêng nhưng đều có ý nghĩa gần gũi với cuộc sống con người.

b. Hòn Đỉnh Hương

Nằm ở vị trí giữa luồng tàu, trên đường từ vị trí của hòn Chó Đá đến hòn Gà Chọi, tay trái là khu vực làng chài Ba Hang. Đỉnh Hương còn gọi là Lư hương. “ Chữ Đỉnh và lục hào Đỉnh đồng nghĩa với nó trong sách Kinh Dịch. Cái vạc, Kinh Dịch nói là biểu tượng của hạnh phúc và sự phồn thịnh” (2) Hòn Đỉnh Hương có hình thù giống với chiếc đỉnh hương nên từ lâu, người dân ở đây gọi tên như thế. Mỗi khi nước xuống, phần chân thon nhỏ của nó hiện ra, phần trên hình Lư hương nhô ra…. Hòn Đỉnh Hương gắn liền với tín ngưỡng và văn hóa truyền thống của người Việt nói chung và cư dân làng chài nói riêng. Người dân ở đây kể rằng, ngày nào cũng vậy, khi hoàng hôn xuống cũng như khi bình minh lên, trước lúc lên đường ra khơi đánh cá, các cư dân làng chài thường dành những giây phút tĩnh lặng để ngắm nhìn hòn Đỉnh Hương và thầm cầu nguyện được biển trời Hạ Long che chở, đánh bắt được nhiều tôm, cá. Vào những ngày biển giận dữ, nổi sóng, gió dữ dội, họ lại hướng về hòn Đỉnh Hương như một sự cầu mong được bình an, vô sự, cầu mong biển lặng, gió yên, bình yên vô sự…

Hòn Đỉnh Hương vừa có một hình dáng của vật thiêng, vùa có một ý nghĩa tâm linh trong tâm thức các ngư dân làng chài.

c. Làng chài Ba Hang

– Những nét chung về cư dân làng chài trên khu vực di sản thiên nhiên thế giới .

Có thể nói, hiếm có một Di sản thiên nhiên thế giới nào trên hành tinh này lại có con người cùng sinh sống trên Di sản đó cùng với những nét sinh hoạt truyền thống văn hóa lâu đời có giá trị. Đó là một trong những nét riêng nổi bật của : các làng chài dưới hình thức các làng thuỷ cư, tập trung chủ yếu tại các thôn như Ba Hang, Cửa Vạn, Vông Viêng, Cặp La. Tổng cộng có khoảng trên 300 hộ với gần 2000 nhân khẩu, do UBND xã Hùng Thắng quản lý. Họ là những hậu duệ có tính kế thừa, một sự hồi quang của nền văn hóa rực rỡ đã chìm trong quá khứ: Văn hóa Hạ Long.

– Vị trí, tên gọi làng chài Ba Hang.

+ Nằm ở phía Tây đảo Đầu Gỗ, làng chài Ba Hang là một trong những làng chài trên khu vực di sản thiên nhiên thế giới . Nơi đây có mực nước nông, kín gió, được các núi đá bao bọc, thuận tiện cho việc tránh giông bão và nuôi trồng, đánh bắt hải sản.

+ ở khu vực này có một hệ thống gồm 03 hang luồn, do vậy người ta đặt tên cho làng là Ba Hang.

– Quá trình hình thành và đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa.

+ Từ những năm 1990 trở về trước, đây là nơi neo đậu của bà con dân chài nhưng số lượng thuyền, các hộ, dân rất ít và không ổn định. Chỉ từ sau khi du lịch phát triển, nhu cầu về các loại hải sản tăng cao và bà con phát triển loại hình nuôi cá lồng bè thì nơi đây mới thực sự trở thành làng – một đơn vị hành chính trực thuộc xã Hùng Thắng như hiện nay.

+ Hiện tại làng chài Ba Hang có khoảng 40 hộ với hơn 150 dân. Từ năm 2000, được sự quan tâm của các cơ quan chức năng, các cấp chính quyền, ở đây đã mở 4 lớp học, từ đó, bước đầu khắc phục được tình trạng mù chữ, nâng cao nhận thức cho trẻ em nơi đây.

+ Điểm nổi bật của làng chài Ba Hang là đời sống kinh tế, xã hội mang đặc trưng của người dân “miền biển”

+ Họ sống từ 2 đến 3 thế hệ trên cùng một con thuyền nhỏ. Đó vừa là phương tiện vừa là mái nhà của họ. Khi ra khơi đánh bắt, cả vợ, con cùng đi, mỗi người một việc. Ngoài những giờ lao động, họ neo thuyền lại thành từng chòm trong các vụng, nơi có mực nước nông, kín gió, được bao bọc bởi các đảo đá.

+ Khi tổ chức sản xuất, các gia đình của dòng họ thường quần tụ lại để làm ăn với nhau trong những khu vực nhất định. Do tính đặc thù của nghề chài lưới trên biển mà họ phải liên kết với nhau.

+ Tính huyết thống, họ hàng được thể hiện rõ nét trong quan hệ sản xuất. Các chủ thuyền có quan hệ cha con, anh em, họ hàng thường tập trung ở một nơi. Khi chưa đến “cơ nước” tức là giờ đi làm ăn, các cụm gia đình thường neo đậu lại với nhau. Đến “cơ nước” gần như các gia đình đó đi về một hướng, một khu vực để đánh cá.

+ Khai thác hải sản là phương thức sản xuất gần như duy nhất của những người dân chài. Để thích nghi với điều kiện sống và sản xuất trên biển họ đã tích luỹ qua nhiều thế hệ vốn tri thức dân gian phong phú như: kinh nghiệm đi biển, thời tiết, lịch con nước, đối tượng mùa vụ sản suất, sử dụng thuyền bè, ngư cụ, những bài thuốc dân gian.

+ Hiện nay do sự suy giảm nguồn lợi thuỷ sản trong vùng lộng và xuất hiện những hình thức sản suất mới đã làm cho một bộ phận đời sống ngư dân thay đổi. Đã xuất hiện hình thức nuôi trồng thuỷ sản bằng lồng bè kết hợp làm nhà nổi bên trên, các dịch vụ buôn bán hải sản và các nghề phụ đã tạo ra diện mạo mới cho các thôn làng chài.

+ Cộng đồng ngư dân này đã nhận được sự quan tâm đặc biệt do giữ một vai trò quan trọng đối với việc bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới . Các vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức, xây dựng lối ứng xử văn hóa đối với Di sản trong cộng đồng dưới các hình thức, biện pháp phù hợp trên cơ sở nâng cao đời sống, từng bước giải quyết nạn mù chữ, sinh đẻ không kế hoạch đã được chú trọng.

+ Cộng đồng dân chài xưa kia vốn có đời sống văn hóa phong phú với những hình thức sinh hoạt văn hoá mang những sắc thái riêng như hát Giao duyên, Hò biển, hát đám cưới. Những hình thức diễn xướng dân gian mang đậm yếu tố biển này được coi là “đặc sản văn hóa” của Hạ Long.

+ Hát giao duyên, hò biển chủ đề ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa…. sử dụng thể thơ lục bát dân tộc, với những vần, điệu trữ tình, sâu lắng, giai điệu dạt dào như tiếng sóng biển, như mạch nguồn văn hóa ngọt ngào của dân tộc, khơi dậy tình cảm chân thực, say đắm nhất của con người để giúp người với người gần gũi, thương yêu nhau hơn sau những ngày lao động vất vả…

+ Những giá trị văn hóa phi vật thể quý giá này của cư dân làng chài đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, đồng thời trở thành “trung tâm điểm” để được các cấp, các nghành… nghiên cứu, tìm biện pháp, giúp đỡ trong đời sống và cũng là để thực hiện tốt hơn công việc bảo tồn và phát huy giá trị .

d. Hòn Gà Chọi. (Trống Mái)

Hòn Gà Chọi còn được gọi một tên khác là hòn Trống Mái (1) , nằm ở vị trí 107 0 15 ‘ 35 ” và 20 0 56 ‘ 51 ” , với diện tích khoảng 230m 2 nằm về phía Đông – nam khu vực đảo Đầu Gỗ, cách bến tàu khoảng 7 km. Hòn Gà Chọi nhìn từ xa theo hướng trực diện hiền hiện rõ nét như một đôi gà đang sát mỏ vào nhau, chẳng biết các chú đang âu yếm tình tự, thì thầm chuyện nước non, hay là đang chuẩn bị tung ra những cú đòn tung, móc, …?

Đôi gà đứng đây từ bao lâu, chẳng ai biết được, nhân dân địa phương có một câu chuyện gắn liền với huyền thoại

“ Ngày xửa, ngày xưa, vào thời người Việt mới lập nước, sau khi sai mẹ con đàn Rồng xuống giúp dân Việt đánh giặc ngoại xâm, chờ mãi không thấy, Ngọc Hoàng sai đôi gà trống xuống triệu tập mẹ con đàn Rồng trở về. Nhưng, điều kỳ diệu đã xảy ra. Đó là hai chú gà trống và chú gà mái. ở giữa nơi phong cảnh hữu tình, rừng vàng biển bạc, con người chung sống thuận hòa, thương yêu nhau hết mực, đôi gà cũng lại giống như mẹ con đàn rồng, cứ mải mê tình tự, vui thú non tiên mà quên mất nhiệm vụ, hóa đá lúc nào mà không hay…”

Gà trống, theo sự nhận thức chung của các dân tộc trên thế giới, được biết đến như một biểu tượng của sự kiêu căng, là biểu tượng phổ biến của mặt trời, bởi vì tiếng gáy của nó báo hiệu mặt trời mọc. Chữ Ki (Kê) chỉ gà trong Hán ngữ đồng âm với chữ điềm lành, thuận lợi. Sau đó, bởi vì dáng đi, phong thái của nó thích hợp để biểu trưng cho năm tính (ngũ đức) (2) . Bên cạnh đó, gà mái lại biểu tượng cho sự sinh sản và phát triển. Theo quan điểm của người phương Đông thì gà trống và gà mái là biểu tượng cho Âm – Dương, một trong những cặp phạm trù của triết học Đông phương uyên thâm, huyền bí. Mà, đã có đủ âm và dương tức là đã có đôi, Kinh Dịch nói rằmg, âm dương là nguồn gốc của sự phát triển.. Chính vì cặp Gà Chọi có hình dáng độc đáo và có ý nghĩa hết sức đặc biệt đối với quần thể nói riêng và Việt Nam nói chung, cho nên từ lâu, hòn Gà Chọi được coi là một hình tượng nổi tiếng của Việt Nam bên cạnh những biểu tượng nổi tiếng khác do thiên nhiên và con người tạo ra như: Hòn Trống Mái (Thanh Hóa), hòn Vọng Phu (Lạng Sơn), Khuê Văn Các (Văn Miếu – Hà Nội)…

Năm 2000, hòn Gà Chọi vinh dự được chọn là biểu tượng của nghành Năm Du lịch Việt Nam, và đến nay, một lần nữa, hòn Gà Chọi lại được chọn là Biểu tượng Năm Du lịch Hạ Long2003

8 . Trở về Cảng tàu Du lịch.

– Khái quát chung về thành phố Hạ Long và giải thích tên gọi Bãi Cháy.

+ Nằm kề bên xinh đẹp là thành phố Hạ Long, mộy trung tân chính trị, kinh tế, văn hóa hội… của tỉnh Quảng Ninh, với diện tích đất liền 280km 2 , dân số khoảng gần 200.000 người (Số liệu năm 2000), gồm 20 đơn vị hành chính (16 phường, 4 xã)

+ Hạ Long là một thành phố trẻ đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, từng bước ổn định và phát triển

+ Thành phố Hạ Long nằm trong dải hành lang biển của Vịnh Bắc Bộ, với chiều dài bờ biển khoảng 25 km. Trên đó, có cả mạng lưới đường bộ, hệ thống cảng biển lớn đang dược mở rộng, phát triển. Là một đỉnh trong tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Thành phố Hạ Long có quan hệ về các hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa, du lịch… với Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hải 0Phòng.

+ Hơn nữa, Hạ Long còn có quan hệ chặt chẽ với cả thị trường quốc tế và khu vực rộng lớn thông qua cửa khẩu Móng Cái. Đặc biệt, Hạ Long có tiềm năng, thế mạnh lớn về du lịch, hiện đã và đang triệt để khái thác thế mạnh này. và thành phố Hạ Long như được sinh ra để bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau, cùng nhau phát triển, tiến lên phía trước…

+ Thành phố Hạ Long đang chuyển mình, hứa hẹn sẽ trở thành một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam và khu vực.

+ Từ xa, địa hình phần đất liền thành phố Hạ Long bị chia cắt thành 2 khu vực bởi bến phà Bãi Cháy. Phía Đông là trung tâm thành phố, phía Tây (1) l à khu du lịch Bãi Cháy với hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, các trò vui chơi, giải trí hấp dẫn.

+ Tương truyền rằng, Bãi Cháy xưa là một khu rừng rậm rạp um tùm tận mép vịnh, vào tháng 2 năm 1288 đoàn thuyền lương của giặc Nguyên Mông do Trương Văn Hổ cầm đầu đến biển Vân Đồn thì bị quân sỹ Đại Việt do Trần Khánh Dư chỉ huy chặn đánh. Chúng vừa chống cự, vừa mở đường tìm cách về đất liền. Đến Cửa Lục (khu vực Bãi Cháy hiện nay), chúng bị sa vào trận địa mai phục hoả công của quân ta. Nhiều thuyền giặc bị đốt cháy, theo chiều gió, đã dạt vào bờ phía Tây Cửa Lục làm cháy luôn cả khu rừng rậm rạp ven bờ. Tên Bãi Cháy xuất hiện từ đó và lưu truyền đến ngày nay.

(1) Do hi ện tượng biến âm, từ âm R đọc chệch thành D, một hiện tượng phổ biến trong Tiếng Việt.

(1) D ẫn theo “Non Nước Hạ Long”, tác giả Thi Sảnh, trang 26

(1) D ẫn theo “Di sản thế giới trong tay thế hệ trẻ” (Bộ tài liệu nguồn về giáo dục dành cho giáo viên), Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam xuất bản, Hà Nội năm 2000, tập 1, trang15.

– Ph ần về động Thiên Cung, có tham khảo “Lý lịch khoa học động Thiên Cung” và có bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với yêu cầu của bài viết.

(1) Đ ối với truyền thuyết Vua Rông, hướng dẫn viêncó thể tham khảo thêm ở phần phụ lục, còn về giá trị thẩm mỹ trong hang, ở đây chúng tôi không có ý định viết chi tiết mà đòi hỏi sự chủ động của hướng dẫn viên.

(1) Cơ s ở văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, NXB Giáo dục1997, in lần thứ nhất, trang 96

(1) D ẫn theo: Non nước Hạ Long, Thi Sảnh, Hội khoa học lịch sử Quảng Ninh xuất bản, năm 2003, trang 173

(1) T ục ngữ Việt Nam có 2 câu phản ánh tính chất hai mặt của loài chó Con không chê cha mẹ khó, cho không chê chủ nghèo và câu Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng

(2) D ẫn theo Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, Sách đã dẫn, trang152.

(1) Có ý ki ến cho rằng, sở dĩ có tên đó là vì tinh thần yêu hòa bình, chuộng tình cảm của nhân dân Quảng Ninh và khách du lịch từ mọi miền, muốn đổi thành Trống Mái gợi lên một sự gần gũi, thương yêu ….

(2) Ng ũ đức đó là: 1. Đức thần dân: bởi vì cái mào của nó có vẻ quan cách ; 2. Đức quân nhân: bởi vì nó có cựa; 3. Đức dũng cảm: thể hiện trong chiến đấu; 4. Đức tốt bụng: bởi vì nó đưa thức ăn cho gà mái’; 5. Đức đáng tin cậy: bởi vì tiếng gáy báo sáng [ Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, Nhà xuất bản Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội. 1997, Nhóm tác giả dịch do Phạm Vĩnh Cư chủ biên; trang 341-342.

(1) Đây ch ỉ là câu chuyện dã sử, không có chứng cứ lịch sử và không có tính xác thực. Song dù sao, câu chuyện này cũng là một cách giải thích tên gọi ở Hạ Long theo kiểu “dân gian” và in đậm hào khí đời Trần. Cần nói thêm rằng: Hiện nay, trong vùng có rất nhiều sự giải thích các tên gọi, truyền thuyết, huyền thoại … mang tính tự phát và chưa hoàn toàn được giới nghiên cứu và quần chúng chấp nhận. Song, chúng ta xét về mặt tích cực của những câu chuyện đó và đưa vào phần giới thiệu mục đích để tăng thêm sự hấp dẫn, huyền ảo.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: