Tiềm năng Hạ Long phần 1

Chuyên đề I
G
iới thiệu chung về Vịnh Hạ Long và những vấn đề liên quan đến công tác quản lí và phát huy giá trị di sản

•  Khái quát chung về Hạ Long

1. Vị trí địa lý, diện tích, số lượng đảo

– Vịnh Hạ Long (theo ranh giới công nhận của nhà nước Việt Nam), nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Đây là vùng biển đảo được xác định trong tọa độ từ 106 0 56′ đến 107 0 37′ kinh độ đông và 20 0 43′ đến 21 0 09′ vĩ độ bắc.

Phía tây và Tây Bắc Vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía nam giáp bờ tây vịnh Bắc Bộ; phía Tây Nam và tây giáp đảo Cát Bà (TP. Hải Phòng).{Kèm theo bản đồ tuyến hành trình}

– Năm 1962, Vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là Di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km 2 với 1969 hòn đảo, trong đó 980 hòn đảo đã được đặt tên.

– Năm 1994, Vịnh Hạ Long được UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc) ghi vào danh mục Di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng về cảnh quan. Khu vực được UNESCO công nhận có diện tích 434 km 2 với 775 hòn đảo trong đó có 441 đảo đã được đặt tên.

– Năm 2000, Vịnh Hạ Long một lần nữa được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới với giá trị nổi bật toàn cầu về địa chất, địa mạo.

– Khu vực Di sản thế giới được UNESCO công nhận (Khu vực I) * được giới hạn bởi 3 điểm: Đảo Đầu Gỗ phía Tây; hồ Ba Hầm phía Nam và đảo Cống Tây phía Đông. Vùng đệm (Khu vực II) là dải bao quanh khu vực bảo vệ tuyệt đối theo hướng Tây – Tây bắc và hướng Bắc – Đông bắc, được xác định bởi bờ Vịnh dọc theo quốc lộ 18A, kể từ kho xăng dầu B12 (Cái Dăm) đến cây số 11 (phường Quang Hanh, thị xã Cẩm Phả). Chiều rộng khu đệm từ 5 – 7 km tính từ đường bảo vệ tuyệt đối ra biển, phạm vi xê dịch từ 1- 2 km. Vùng phụ cận (Khu vực III) là vùng biển hoặc đất liền bao quanh khu đệm, kể cả vùng biên tiếp giáp với Vườn Quốc gia Cát Bà.

•  Điều kiện tự nhiên:

– Địa hình:

+ Vịnh Hạ Long là dạng địa hình đảo xen lẫn với các trũng biển, các vùng bãi triều có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng, rất tương phản nhau. Các đảo của Vịnh Hạ Long có độ cao khác nhau (phổ biến từ 50 đến 200m), chủ yếu là đảo đá vôi tập trung ở vùng Hòn Gai và đảo phiến thạch tập trung ở vùng Cẩm Phả. Những đảo đất của Vịnh Hạ Long thường có người và động vật sinh sống, có thảm thực vật trù phú.

+ Địa hình đáy biển Vịnh Hạ Long tương đối bằng phẳng, chỗ sâu nhất từ 20 – 25m. Hầu hết độ sâu của biển vùng này là 5 – 10m, những nơi sâu nhất thường nằm ở vùng giáp giới với ngoài khơi của vịnh Bắc Bộ, các cửa biển hoặc luồng lạch.

– Khí hậu:

+ Khí hậu Hạ Long mang tính chất nhiệt đới ẩm, khí hậu bị phân hóa thành hai mùa rõ rệt: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều kéo dài,… mùa đông khô, lạnh. Đồng thời, do nằm ở bờ tây vịnh Bắc Bộ, nên khí hậu mang tính chất biển và luôn được điều hòa bởi ảnh hưởng của biển (1) .. Nhiệt độ trung bình từ 15 đến 25 0 C.

+ Vịnh Hạ Long là một trong những nơi có lượng mưa cao ở các tỉnh phía Bắc. Tổng lượng mưa hàng năm đạt 2000 – 2200mm/năm.

– Thủy văn:

+ Vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều thuần nhất điển hình (2) (. Vịnh Hạ Long có biên độ triều vào loại lớn nhất nước ta: 3,5 đến 4,0 m. Độ mặn của nước biển từ 31 đến 34,5 ä , biên độ dao động của độ mặn giữa các tháng trong mùa không lớn.

3. Nguồn gốc tên gọi:

– Tài liệu lưu truyền trong dân gian:

+ Hạ Long theo nghĩa Hán – Việt có nghĩa là “rồng xuống”. Từ lâu, dân gian vùng biển Quảng Ninh vẫn lưu truyền huyền thoại về đàn rồng xuống giúp dân Việt đánh giặc ngoại xâm. Chuyện kể rằng:

“ Ngày xưa, khi người Việt mới dựng nước, nhân dân đang sống yên ổn thì giặc ngoại bang xâm lấn bờ cõi nước ta. Trước thế giặc mạnh, trời sai rồng mẹ mang theo một đàn rồng con xuống giúp người Việt đánh giặc. Khi thuyền giặc từ biển cả ào ạt tấn công vào bờ thì đàn rồng cũng lập tức hạ giới phun ra vô số châu ngọc. Những châu ngọc ấy thoắt biến thành muôn vàn đảo đá sừng sững, liên kết lại như bức tường thành vững chãi, Thuyền giặc đang lao nhanh bất ngờ bị chặn lại liền đâm vào các đảo đá, đâm vào nhau vỡ tan tành …

Sau khi giặc tan, thấy cảnh hạ giới thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng mẹ và rồng con không trở về trời, mà ở lại hạ giới.

Chỗ rồng mẹ xuống là Hạ Long, nơi rồng con xuống chầu bên rồng mẹ là Bái Tử Long. Đuôi của đàn rồng quẫy lên trắng xóa là Long Vĩ ( tức bán đảo Trà Cổ ngày nay) với bãi cát mịn, dài hàng chục kilômét…” (1)

– Tài liệu từ văn bản chữ viết:

Từ trước thế kỷ thứ 19, tên Vịnh Hạ Long chưa được ghi chép trong những thư tịch cổ nước ta, mà vùng biển này được biết đến với những tên An Bang, Lục Thủy, Vân Đồn… Đến cuối thế kỷ 19, tên Vịnh Hạ Long mới xuất hiện trên các bản đồ hàng hải của Pháp. Trên tờ “ Tin tức Hải Phòng” xuất bản bằng tiếng Pháp đã đưa tin: “ Rồng xuất hiện trên Vịnh Hạ Long ”. Câu chuyện được tóm tắt như sau: Năm 1898 viên thiếu uý La- gờ – rê – din, thuyền trưởng tàu A -va -lăng sơ đã gặp một đôi rắn biển khổng lồ ba lần trên Vịnh Hạ Long. Không chỉ riêng viên thiếu úy mà có rất nhiều thủy thủ khác trên tàu cùng chứng kiến. Người châu âu liên tưởng, con vật này giống như con rồng châu á. Phải chăng chính vì sự xuất hiện con vật lạ được mệnh danh là rồng mà vùng biển Quảng Ninh được mang tên là Vịnh Hạ Long?

•  Những giá trị của Vịnh Hạ Long

•  Giá trị thẩm mỹ

– Cảnh đẹp của Vịnh Hạ Long từ góc độ tổng thể :

Là sự kết hợp hài hòa giữa dáng núi và biển trời, với sắc nước, màu mây… Là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình kỳ thú của tạo hóa, có sự kết hợp tinh tế giữa điêu khắc và hội họa, bố cục và màu sắc, giữa tính hoành tráng khoẻ khoắn với sự duyên dáng, thơ mộng…

– Vẻ đẹp của sự tạo dáng muôn hình vạn trạng . Sự phong phú từ các đảo, núi đá với những hình khối, quy mô khác nhau, ta có cảm tưởng đó không phải là những đảo đá, mà là những sinh linh sống động…

– Sự biến đổi của cảnh quan: theo từng góc nhìn, theo thời gian (bình minh, hoàng hôn, sớm, trưa, chiều tối…) Theo thời tiết (nắng, mưa, sương mù… ) theo mùa (xuân, hạ, thu, đông); theo tâm trạng của người ngoạn cảnh (buồn, vui,…){ Lưu ý, ở đây hướng dẫn viên có thể mở rộng qua các ví dụ}

– Cảnh đẹp không chỉ ở bên ngoài dáng núi, sắc trời … mà còn chứa đựng trong lòng các đảo, núi đá đó là hệ thống các hang động vô cùng phong phú

– Cảnh đẹp từ sự đa dạng của các hệ sinh thái : Thảm thực vật trên núi đá… ven chân đảo núi, vùng triều rừng ngập mặn… tạo nên muôn màu, muôn vẻ .

– Cảnh đẹp của Hạ Long là nguồn cảm hứng vô tận, là lời mời gọi các thi nhân từ xưa đến nay.

(HDV trích dẫn một số bài thơ, câu thơ nổi tiếng viết về Vịnh Hạ Long) .

•  Giá trị địa chất

Lịch sử hình thành Vịnh Hạ Long: (kèm theo phụ lục sơ đồ tóm tắt lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long)

Giá trị lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long được đánh giá bởi 2 yếu tố, đó là: Lịch sử kiến tạo và địa mạo Karst (1) .

– Giá trị lịch sử kiến tạo:

+ Lịch sử địa chất của Vịnh Hạ Long được các nhà khoa học nhận định trải qua ít nhất trên 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, nhiền lần tạo sơn – biển thoái, sụt chìm – biển tiến. Vịnh Hạ Long còn giữ lại được những dấu ấn của quá trình tạo sơn, địa máng (2) vĩ đại của trái đất, có cấu tạo địa lũy (3) , địa hào cổ (4) .

+ Vịnh Hạ Long đã trải qua những thời kỳ cổ địa lý rất đặc biệt. Kỷ Cacbon (340 – 285 triệu năm trước) là thời gian nóng ẩm của trái đất, phát triển môi trường đầm lầy thực vật thuận lợi cho hình thành các bể than đá khổng lồ ở châu Âu thì ở Vịnh Hạ Long lại là vùng biển nông, khí hậu khô nóng để hình thành nên tầng đá vôi dày. Trái lại, vào kỷ Trias (240 – 195 triệu năm trước) khi trái đất nói chung, châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ… Vịnh Hạ Long ngày nay mới được hình thành trong 8 – 7 nghìn năm qua. Nhưng để có vịnh, đã phải có một biển cổ tích tụ tầng đá vôi dày trên nghìn mét trong khoảng 340 – 240 triệu năm trước, một thời kỳ xâm thực Karst kéo dài trên 20 triệu năm trong môi trường lục địa kỷ Neogen và Nhân sinh, và phải có một biển tiến hành tinh liên quan tới trái đất ấm lên – băng tan trong hơn vạn năm qua…

c. Giá trị địa mạo Karst:

+ Vịnh Hạ Long có một quá trình tiến hóa Karst đầy đủ trải qua 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều dạng địa hình Karst: Karst bề mặt và Karst ngầm. Các dạng Karst bề mặt gồm có:

•  Địa hình Karst kiểu Phong Tùng : Gồm một cụm đá vôi thường có hình chóp nằm kề nhau. Các chóp có đỉnh cao trên dưới 100m, cao nhất khoảng 200m.

•  Địa hình Karst kiểu Phong Linh : Đặc trưng bởi các đỉnh tách rời nhau tạo thành các tháp có vách dốc đứng. Phần lớn các tháp có dộ cao từ 50 – 100m. Tỉ lệ giữa các xhiều cao và rộng khoảng 6m. Các cụm đồi đá vôi hình chóp nón nằm kề nhau, điển hình là ở khu đảo Bồ Hòn và Đầu Bê. (1)

•  Cánh đồng Karst: Là những vùng trũng khép kín có đáy rộng và phẳng nằm trong các vùng Karst.

•  Địa hình Karst ngầm: Là hệ thống các hang động đa dạng trên Vịnh, được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm thứ nhất là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt – động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long,v.v… Nhóm thứ hai là các hang nền Karst tiêu biểu là Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống v.v.. Nhóm thứ 3 là hệ thống các hàm ếch biển, tiêu biểu như 3 hang thông nhau ở cụm Hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang…

– Quá trình hình thành hang động trên Vịnh Hạ Long:

+ Hệ thống hang động trên Vịnh Hạ Long thường tập trung ở các khoảng độ cao 10 -15m; 20 – 30m; và 40 – 60m. Mỗi hệ độ cao hang động đánh dấu một thời kỳ ổn định kiến tạo và ứng với một mực xâm thực cơ sở nhất định. Các dạng hang phổ biến có tuổi khoảng Pleixtoxen giữa và muộn (cách đây khoảng 2 triệu năm) – là thời gian thuận lợi cho quá trình tạo hang vì đây là thời kỳ mát lạnh, mưa nhiều. So với tuổi của hang, tuổi của thạch nhũ trẻ hơn nhiều bởi chúng được hình thành vào thời kỳ Holoxen (cách đây khoảng 17000 – 11000 năm).

+ Quá trình hoà tan đá vôi tạo hang và thạch nhũ (Xem phương trình hóa học trong các tài liệu của Ban quản lí Vịnh Hạ Long)

+ Khi nhiệt độ mát lạnh, thuận lợi cho phản ứng thuận (tạo hang động), khi nhiệt độ cao thuận lợi cho phản ứng chiều nghịch (tạo thành thạch nhũ).

•  Giá trị văn hóa lịch sử

– Khu vực Vịnh Hạ Long là một trong những cái nôi cư trú của người Việt Cổ, được chứng minh qua các di chỉ khảo cổ học phát hiện với ba nền văn hóa kế tiếp nhau phát triển liên tục: Văn hoá Soi Nhụ, Văn hoá Cái Bèo và Văn hoá Hạ Long, ba nềm văn hóa này gắn liền với nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn (kéo dài từ Hậu kì Đá cũ đến Hậu kì Đá mới) nổi tiếng của Việt Nam,.

+ Văn hóa Soi Nhụ : Cách ngày nay từ 25000 đến 7000 năm chủ yếu phân bố trong khu vực các đảo đá vôi thuộc Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, các di vật còn lại chủ yếu là ốc núi và ốc suối cùng một số nhuyễn thể nước ngọt khác, một số công cụ lao động thô sơ. Soi Nhụ là một di chỉ khảo cổ học thuộc vịnh Bái Tử Long. Trong khu vực Di sản thế giới gồm các di chỉ tiêu biểu như: Mê Cung, Tiên Ông, Thiên Long…

+ Văn hóa Cái Bèo : Cách ngày nay từ 7000 đến 5000 năm. Đây có thể coi là giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi Nhụ và văn hóa Hạ Long. Di chỉ Cái Bèo thuộc đảo Cát Bà – Thành phố Hải Phòng. Phương thức cư trú và sinh sống của người Cái Bèo ngoài săn bắt hái lượm đã có thêm khai thác biển. Đặc biệt sản phẩm gốm càng ngày càng phong phú hơn.

Các di chỉ thuộc văn hóa Cái Bèo ở khu vực Hạ Long như Giáp Khẩu, Hà Gián…

+ Văn hóa Hạ Long : Cách ngày nay từ 4500 năm đến 3500 năm được chia ra làm 2 giai đoạn: sớm và muộn

•  Giai đoạn sớm : do biển tiến Holoxen trung, môi trường cư dân Cái Bèo tạo nên loại hình sớm Thoi Giếng của Văn hóa Hạ Long

Địa bàn cư trú của chủ nhân nền văn hóa này chủ yếu thuộc các di chỉ Thoi Giếng, Gò Bà Mừng, xóm Chùa, thôn Nam… thuộc xã Vạn Ninh (Móng Cái) có độ cao khoảng 6m so với mực nước biển hiện tại. Phương thức sống: săn bắt, hái lượm. Nghệ thuật chế tác công cụ lao động, đồ gốm bắt đầu phát triển mạnh.

Giai đoạn muộn : Là kết quả của mực nước biển dâng cực đại rồi sau đó rút dần (Trong khoảng 4000 – 3000 năm trước). Địa bàn cư trú và kiếm sống của người Hạ Long thu hẹp lại, khu vực cư trú bị biển ngăn cách thành các đảo. Khai thác biển vẫn là nghề truyền thống Họ thực sự là cư dân của của biển: thuyền bè, phương thức kiếm sống, kỹ nghệ chế tác công cụ lao động tinh xảo: cưa chuốt bóng, tạo nên những công cụ đá độc đáo mang đặc trưng văn hóa Hạ Long: rìu, bôn có vai có nấc… Gốm xốp trở thành gốm đặc trưng của gốm Hạ Long.

Văn hóa Hạ Long có một vị trí đặc biệt đối với nền văn minh Việt Cổ

– Khu vực Vịnh Hạ Long – nơi ghi dấu lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc

+ Thương cảng Vân Đồn:

•  Vào năm 1149, Vua Lý Anh Tông cho thành lập thương cảng Vân Đồn. Đó không chỉ là một bến cảng mà là một hệ thống gồm nhiều bến thuyền thương mại trên các đảo quây quần trên vùng vịnh Bái Tử Long. Trung tâm của khu vực thương cảng này thay đổi theo các thời kỳ và Vân Đồn đã trở thành nơi buôn bán, giao lưu kinh tế – văn hóa sầm uất, sôi động suốt từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 18.( tức từ thời Lí đến Hậu Lê)

•  Năm 1468, Vua Lê Thánh Tông trong chuyến đi kinh lí vùng An Bang (Hạ Long) đã đề thơ trên núi Truyền Đăng (núi Bài Thơ ngày nay). Từ sự kiện này cho đến những năm tháng chống Mỹ oai hùng của dân tộc, trải dài suốt mấy trăm năm bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, núi Bài Thơ được coi như là biểu tượng tự hào về một trong những giấ trị lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam ở vùng Đông Bắc Tổ quốc

+ Ghi dấu 3 trận thắng oanh liệt chống ngoại xâm:

•  Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán năm 938, Lê Hoàn đánh tan quân Tống năm 981 trên sông Bạch Đằng và đại thắng năm 1288 trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của quân và dân nhà Trần.

+ Trong kháng chiến chống Pháp:

•  Hang Đúc Tiền: ở căn cứ của Đề Hồng, Cai Thái tại núi Cánh Quýt, nghĩa quân lập xưởng đúc súng, đúc tiền trang bị cho kháng chiến chống Pháp

•  Ngày 1/5/1930, lá cờ búa liềm phấp phới tung bay trên đỉnh núi Bài Thơ, đánh dấu một giai đoạn mới của phong trào đấu tranh cách mạng – của giai cấp công nhân Vùng Mỏ, góp phần đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp.

•  Ngày 24/3/1946 Hồ Chủ Tịch hồi đàm với Cao Uỷ Pháp Đác-giăng-liơ trên chiến hạm E-min-béc-tanh

+ Trong kháng chiến chống Mỹ:

•  Vào đầu những năm 60 thế kỷ 20 – những chuyến tàu không số xuất phát từ khu vực Hạ Long tiến vào Miền Nam mang theo vũ khí, đạn dược… góp phần vào chiến thắng vẻ vang của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước (Tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển)

•  Vịnh Hạ Long chứng kiến lần tập kích và thất bại đầu tiên bằng không quân của không lực Hoa Kì khi chúng mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc: 5/8/1964 cùng với sự kiện bắt sống tên giặc lái Mỹ đầu tiên: Phi công An-va-rét

+ Quảng Ninh nói chung, Vịnh Hạ Long nói riêng là địa đầu Tổ quốc có vị trí chiến lược đối với các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của quốc gia và khu vực.

•  Giá trị đa dạng sinh học

Vịnh Hạ Long đa dạng về hệ sinh thái đồng thời cũng thể hiện sự đa dạng loài, đa dạng nguồn gen, vì khu vực này có điều kiện sinh thái đặc biệt và thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật.

– Đa dạng hệ sinh thái:

Vịnh Hạ Long tồn tại 2 hệ sinh thái lớn: Hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới ; Hệ sinh thái biển ven bờ

+ Hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới: Đây là hệ sinh thái đặc biệt so với nhiều nơi, hệ sinh thái này tồn tại trên các núi đá vôi của Vịnh Hạ Long.

+ Hệ sinh thái biển và ven bờ bao gồm nhiều hệ sinh thái nhỏ, đó là: HST vùng triều có rừng ngập mặn;HST đáy cứng (rạn san hô);HST hệ sinh thái hang động và tùng áng; HST đáy mềm (cỏ biển); HST bãi triều không có rừng ngập mặn; Dạng sinh thái nhân tạo; Hệ sinh thái biển bao gồm: Sinh vật phù du, động vật tự du và động vật đáy

+ Trong đó, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn còn là nơi sinh sống của rất nhiều loài khác, có năng suất sinh thái cao. Đây chính là những hệ sinh thái nhạy cảm được UNESCO quan tâm bảo vệ hàng đầu.

– Đa dạng loài

+ Vịnh Hạ Long là nơi sinh cư của 166 loài thực vật phù du, 106 loài động vật phù du, 19 loài thực vật ngập mặn, 5 loài cỏ biển, đặc biệt, đây là nơi sinh sống của 170 loài san hô cứng (loài có khả năng tạo rạn). Vịnh Hạ Long cũng là nơi sống của 300 loài động vật nhuyễn thể ; 200 loài giun nhiều tơ; 13 loài da gai, 326 loài động vật tự du, trong đó có: 313 loài cá, 10 loài bò sát và 3 loài thú biển. ( “Nghiên cứu quản lí môi trường Vịnh Hạ Long” – JICA, 1999 )

+ Năm 2002, Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng đã khảo sát nhằm đánh giá, kiểm kê đa dạng sinh học vùng Vịnh Hạ Long. Các nhà khoa học đã khảo sát 7 điểm (1) trong khu vực I của Di sản. Theo kết quả ban đầu nhận định của các nhà khoa học, Vịnh Hạ Long vẫn giữ được sự đa dạng hệ sinh thái và đa dạng loài vốn có, hơn nữa còn phát hiện thêm nhiều loài mới. (2

•  Đa dạng nguồn gen :

+ Ngoài ra, Vịnh Hạ Long còn chứa đựng nhiều nguồn gen qúy hiếm đã tạo nên sự đa dạng phong phú về thành phần loài cho khu vực.

5. Các tiềm năng của tỉnh Quảng Ninh và Vịnh Hạ Long

•  Vài nét về tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hạ Long

– Quảng Ninh với diện tích 5.938 km 2 , có 250km bờ biển, đường biên giới với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) dài 132,8 km. Số dân toàn tỉnh năm 2000 là 1,07 triệu người, dự báo năm 2010 dân số Quảng Ninh khoảng 1,2 triệu người. Tốc độ tăng bình quân là 1,2%/năm (1 ) . Quảng Ninh có 22 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỉ lệ cao nhất (85%) (3 ) , các dân tộc còn lại sống xen kẽ và phân bố trên toàn tỉnh.

– Quảng Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ấm, mưa nhiều, lại là tỉnh có hệ thống cảng biển có thể đón nhận tàu trên 5 vạn tấn cập cảng, hệ thống giao thông thuận tiện, có cửa khẩu quốc tế thông thương với Trung Quốc, thuận lợi cho giao lưu kinh tế xã hội trong nước và quốc tế.

– Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, trữ lương tương đối lớn, ước tính khai thác được khoảng trên 3 tỉ tấn. Sản lượng khai thác hàng năm được khoảng 10 –12 triệu tấn. Chỉ tính riêng năm 2002, sản lượng khai thác than đạt 16,5 triệu tấn, nộp ngân sách Nhà nước trên 7.000 tỉ đồng. Giai đoạn năm 2003- 2005, ngành than phấn đấu khai thác đạt 23- 25 triệu tấn./ năm

– Du lịch là nguồn tài nguyên lớn, ưu thế nổi trội của Quảng Ninh. Năm 2002, Quảng Ninh đón 2,35 triệu lượt khách du lịch trong đó có 900.000 lượt khách quốc tế. Riêng Vịnh Hạ Long đón 1.281.689 lượt khách đến thăm. Đến năm 2010, Quảng Ninh sẽ có khả năng thu hút 2,5 – 3 triệu lượt khách du lịch trong đó có 1,2 – 1,3 triệu lượt khách nước ngoài (3)

– Nằm kề bên bờ Vịnh Hạ Long là thành phố Hạ Long. Thành phố được thành lập 27/12/1993 trên cơ sở thị xã Hòn Gai cũ với diện tích khoảng 230 km 2 đất liền với 20 đơn vị hành chính, dân số 196.880 người (4) . TP Hạ Long còn là một trung tâm du lịch lớn của Quảng Ninh và của cả nước.

b. Các tiềm năng của Quảng Ninh và Vịnh Hạ Long.

b1. Tiềm năng du lịch

– Thế mạnh

+ Với những giá trị đặc biệt to lớn về cảnh quan, địa chất, lịch sử văn hóa và sự phong phú, giàu có về sinh thái cùng với sự kiện hai lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, hiển nhiên, Vịnh Hạ Long đã hội tụ những điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch.

Hiện trạng và xu thế phát triển

+ Chính nhờ những ưu thế, tiềm năng lớn về du lịch, nên sự tăng trưởng về số lượng khách ở Hạ Long được đánh giá là nhanh nhất ở Việt Nam trong những năm gần đây. Nếu như năm 1996, Vịnh Hạ Long đón 350.000 lượt khách thì năm 2002, con số này là 1.281.698. Dự đoán năm 2005, số lượt khách đến Vịnh Hạ Long sẽ là 1,5 đến 1,8 triệu, và đến năm 2010, Hạ Long sẽ là điểm đón tiếp 2,5 – 3 triệu lượt khách.( Số liệu của Ban Quản lý Vịnh Hạ Long)

+ Hình thức du lịch ở Vịnh Hạ Long đa dạng: Du lịch ngắm cảnh; Du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển; Du lịch leo núi; Du lịch mạo hiểm; Du lịch văn hóa … và một số hình thức du lịch khác.

+ Các hoạt động dịch vụ hiện nay: Hệ thống nhà hàng – khách sạn phục vụ nghỉ ngơi, nghỉ dưỡng, nhà hàng phục vụ ăn uống… ; Hệ thống giao thông đường biển phục vụ đưa đón khách tham quan, du lịch trên Vịnh Hạ Long, hệ thống giao thông đường bộ đưa đón khách đến các vị trí, các điểm tham quan khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh như: Di tích Yên Tử, Bãi cọc Bạch Đằng, bãi biển Trà Cổ (Móng Cái)…

Dự kiến năm 2010, Quảng Ninh sẽ là một trong những điểm du lịch lớn nhất cả nước. Hiện nay, quy hoạch về không gian du lịch đã được xác định, đó là:

•  Khu du lịch Hạ Long, bao gồm:

+ Khu du lịch ven bờ: Trung tâm thành phố Hạ Long; Bãi Cháy, đảo Tuần Châu…

+ Khu du lịch Vịnh Hạ Long – Di Sản thiên nhiên thế giới với nhiều hang động bãi tắm, hòn đảo đẹpnổi tiếng là điều kiện lý tưởng để hình thành các điểm tham quan, du lịch sinh thái hấp dẫn.

2. Khu du lịch Móng Cái – Trà Cổ: Gồm toàn bộ thị xã Móng Cái, bãi biển Trà Cổ, đảo Vĩnh Thực, khu hồ Tràng Vinh

•  Khu du lịch Uông Bí – Đông Triều – Yên Hưng: Bao gồm thị xã Uông Bí, Khu di tích Văn hoá lịch sử Yên Tử, hồ Yên Trung, thác nước Lựng Xanh.

4. Khu du lịch huyện đảo Vân Đồn: Bao gồm: Thị trấn Vân Đồn, đảo Ngọc Vừng, Quan Lạn, Minh Châu và Vườn Quốc gia Bái Tử Long.

2. Tiềm năng cảng biển và giao thông thủy

– Điều kiện thuận lợi

+ Vịnh Hạ Long là một trong những cửa ngõ giao thông chính của miền Bắc Việt Nam. Đây là vùng vịnh kín nên ít sóng và gió. Chế độ bán nhật triều với biên độ dao động từ 2,4 đến 4m; hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi lắng là điều kiện lý tưởng để xây dựng hệ thống cảng biển, đặc biệt là cảng nước sâu. Điều kiện thuận lợi này cho phép xây dựng hệ thống giao thông cảng biển lớn mạnh, xây dựng mô hình phát triển du lịch toàn diện… Tuy nhiên, tiềm năng phát triển giao thông cảng biển cũng đặt ra thách thức đồng nghĩa với việc bảo vệ môi trường biển Vịnh Hạ Long.

– Hiện trạng và xu thế phát triển

+ Tỉnh Quảng Ninh đang có một hệ thống cảng biển nằm tập trung ở các khu vực: Hạ Long, Cẩm Phả, Tiên Yên, đặc biệt là hai cảng lớn Cái Lân (Hạ Long) và Cửa Ông (Cẩm Phả). Ngoài ra, Quảng Ninh còn có một hệ thống cảng phụ trợ với công suất nhỏ hơn như: Mũi Chùa (Tiên Yên), cảng Vạn Gia (Móng Cái), Nam Cầu Trắng (Hạ Long)… Riêng cảng than Hòn Gai đã ngừng việc bốc rót than để xây dựng thành cảng thương mại đón tầu trong nước và quốc tế.

+ Đặc biệt là cảng Cái Lân, nằm ở phía Bắc thành phố Hạ Long, gần với Cửa Lục (Bến Phà Bãi Cháy), là vùng nước sâu, kín gió, nằm liền kề Quốc lộ 18A, thuận lợi việc bốc rót, chuyên chở hàng hóa. Mục tiêu đến năm 2010, sẽ xây dựng hoàn chỉnh cảng Cái Lân, với 7 cầu cảng, công suất hơn 14 triệu tấn cho phép tiếp nhận tàu trọng tải trên 5 vạn tấn…

+ Hệ thống cảng chuyên dụng sẽ được xây dựng như cảng Cửa Ông với công suất 5 triệu tấn /năm và cho phép tàu trọng tải trên 5 vạn tấn có thể ra vào. Ngoài ra, một số cảng sẽ được nâng cấp và xây mới như: cảng Vạn Gia, Mũi Ngọc, Thọ Dân, Cô Tô v. v…

b.3. Tiềm năng hải sản

– Điều kiện thuận lợi:

+ Biển Quảng Ninh chứa đựng nhiều hệ sinh thái phong phú có giá trị đa dạng sinh học cao, trữ lượng hải sản của vùng rất lớn. Điều kiện tự nhiên thích hợp cho việc nuôi trồng hải sản như: khí hậu, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng… cùng nhiều điều kiện thuận lợi khác.

+ Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, nhiều bãi triều đang là những khu vực nuôi trồng hải sản mang lại lợi ích kinh tế cao như: cá, tôm, sá sùng, hải sâm trắng, ngao, sò huyết ở các địa phương như :Yên Hưng, Vân Đồn, Cẩm Phả và xã Hùng Thắng (thành phố Hạ Long). Tất cả những điều kiện đó cho phép ngành thuỷ hải sản địa phương phát triển ở cả lĩnh vực khai thác và nuôi trồng. Tuy nhiên những quy hoạch cho phát triển thủy sản trong tỉnh phải luôn quan tâm đến cân bằng sinh thái, bảo vệ cảnh quan, giữ vững môi trường..

6. Hai lần Vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới

a. Việt Nam tham gia công ước quốc tế về bảo vệ Di sản thế giới

+ Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới

Ngày 16 tháng 11 năm 1972, tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Pari, Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới đã được thông qua. Công ước này gồm 8 chương, 33 điều.

Năm 1987, Chính phủ Việt Nam đã chính thức phê chuẩn và tham gia ký kết Công ước quốc tế về bảo vệ Di sản thế giới, mở đầu việc hoà nhập vào những hoạt động quốc tế về việc bảo tồn, phát huy các giá trị Di sản ở Việt Nam.

Theo Công ước này, một khu vực được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới khi nó chứa đựng một hoặc 1 số tiêu chuẩn sau:

1) Mang dấu ấn tiêu biểu về các giai đoạn chính của lịch sử trái đất bao gồm: quá trình phát triển cuộc sống, ý nghĩa của quá trình phát triển địa chất như: phát triển địa hình, hoặc ý nghĩa về địa chất học và địa văn học tiêu biểu.

2) Mang dấu ấn tiêu biểu về sự hình thành sinh thái, đa dạng sinh học qua các quá trình xâm thực và phát triển lục địa, nước ngọt, bờ biển, hệ sinh thái biển và quần thể động thực vật.

3) Có cảnh quan tự nhiên đẹp, đặc sắc độc đáo, mang giá trị thẩm mỹ cao.

4) Là nơi cư trú tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, lưu giữ các loài động thực vật độc đáo, quý hiếm, có giá trị ngoại hạng về mặt khoa học và bảo tồn.

b. Hai lần Vịnh Hạ Long được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.

– Lần thứ nhất

+ Quá trình khảo sát, nghiên cứu, chuẩn bị hồ sơ khoa học đề nghị công nhận:

Ngày 21/12/1991 Chính phủ Việt Nam đã cho phép tiến hành đợt đầu tiên xây dựng hồ sơ Vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản thế giới xét duyệt. Năm 1993, hồ sơ khoa học về Vịnh Hạ Long được hoàn tất và chuyển đến trung tâm UNESCO ở Pari để xem xét

+ Quá trình thẩm định:

Trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ Vịnh Hạ Long, UNESCO lần lượt cử các đoàn chuyên gia đến Quảng Ninh để khảo sát, hướng dẫn, nghiên cứu, thẩm định hồ sơ tại chỗ.

Hồ sơ Vịnh Hạ Long được gửi đến trụ sở UNESCO. Nhưng lần này được chỉnh lý, bổ sung, hoàn chỉnh hơn lần trước. UNESCO chấp nhận hồ sơ Vịnh Hạ Long và đưa vào xem xét tại hội nghị lần thứ 18.

+ Kỳ họp công nhận:

Ngày 17 tháng 12 năm 1994 trong kỳ họp thứ 18 tại Phù- kẹt, Thái Lan Uỷ ban Di sản thế giới đã chính thức công nhận Vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng về mặt thẩm mỹ theo tiêu chuẩn (iii) với số phiếu thuận 100%.

– Lần thứ 2

+ Quá trình khảo sát, nghiên cứu, chuẩn bị hồ sơ khoa học

Việc Vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thế giới về giá trị cảnh quan vào năm 1994 là một vinh dự lớn với đất nước Việt Nam, đồng thời đó cũng là động lực thúc đẩy cho việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị công nhận giá trị địa chất – một trong những giá trị tiểu biểu, hiếm có trên thế giới của Vịnh Hạ Long.

Theo đề nghị của Ban Quản lý Vịnh Hạ Long và IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới), tháng 9/1998, GS. TonyWaltham, chuyên gia đầu ngành về địa chất học trường đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa chất vùng đá vôi Karst Vịnh Hạ Long trong thời gian 12 ngày, đã khảo sát 47 điểm và 32 hang động trên vịnh.

GS. TonyWaltham đã gửi bản báo cáo về giá trị địa chất Vịnh Hạ Long tới Trung tâm Di sản thế giới tại Pari, Văn phòng IUCN tại Thuỵ Sỹ và Hà Nội, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long.

Ngày 25/2/1999, sau khi nhận được báo cáo của GS. TonyWaltham, Trung tâm Di sản thế giới đã gửi thư tới UBND tỉnh Quảng Ninh, Uỷ ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban Quản lý Vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận giá trị ngoại hạng mang tính toàn cầu địa chất cùng Karst Vịnh Hạ Long.

+ Quá trình thẩm định:

Tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Uỷ ban Di sản thế giới công nhận Vịnh Hạ Long về giá trị địa chất đã được hoàn tất.

Sau khi được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Bộ Văn hóa- Thông tin, Uỷ ban quốc gia UNESCO Việt Nam phê duyệt, Hồ sơ được gửi Văn phòng Trung tâm Di sản thế giới tại Pari.

Tháng 12/1999 tại hội nghị lần thứ 23 Uỷ ban Di sản thế giới họp tại thành phố Ma-ra-ket của Marốc, Uỷ ban Di sản thế giới đã chính thức xác nhận vấn đề này và đưa việc thẩm định hồ sơ và công nhận giá trị địa chất Vịnh Hạ Long vào năm 2000.

Tháng 3/2000 GS. Erery Hamilton Smith, chuyên gia của Australia, thành viên của IUCN đã tới Hạ Long để thẩm định tính xác thực của hồ sơ, giá trị địa chất cũng như đánh giá về thực trạng quản lý và đưa ra một số khuyến nghị.

+ Quá trình công nhận

Tháng 7/2000, trong kỳ họp giữa năm của Văn phòng Trung tâm Di sản thế giới tại Pari đã chính thức đề nghị Uỷ ban Di sản thế giới công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới bởi giá trị nổi bật về địa chất địa mạo.

+ Kỳ họp công nhận:

Ngày 29/11/2000, tại Hội nghị lần thứ 24 của Uỷ ban Di sản thế giới tại thành phố Cairns, bang Queensland, australia, sau khi nghe thuyết trình của Trung tâm Di sản thế giới và đánh giá của IUCN, Uỷ ban Di sản thế giới đã chính thức công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (i) của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.

II. Chức năng nhiệm vụ của Ban Quản lý Vịnh Hạ Long và những hoạt động khai thác phát huy giá trị Di sản

•  Chức năng nhiệm vụ của Ban quản lý Vịnh Hạ Long

Sau khi Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản thế giới (1994), ngày 09/12/1995, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành quyết định số 2796 QĐ – UB về việc thành lập Ban Quản lý Vịnh Hạ Long.

Theo Quyết định này, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh quản lý nhà nước, bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long, đồng thời chịu sự chỉ quản lý chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Văn hóa – Thông tin và Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam.

Ban Quản lý Vịnh Hạ Long có 12 chức năng, nhiệm vụ cụ thể:

•  Tham mưu, đề xuất, giúp UBND tỉnh xây dựng quy chế và tổ chức thực hiện những kế hoạch, biện pháp quản lý, bảo tồn và khai thác Vịnh Hạ Long.

•  Xây dựng các kế hoạch phát triển, các dự án đầu tư, tu bổ, tôn tạo, trình UBND tỉnh phê duyệt, UBND tỉnh sẽ giao Ban quản lý Vịnh Hạ Long tổ chức và giám sát việc thực hiện một số dự án cụ thể.

•  Phối hợp cùng các ngành chức năng có liên quan tiến hành các hoạt động kiểm tra bảo vệ cảnh quan, môi trường và đa dạng sinh học; Phát hiện, chấn chỉnh, xử lý các vi phạm quy định quản lý hoạt động tham quan, du lịch trên Vịnh Hạ Long.

•  Chủ trì phối hợp với các ngành: Công an, Giao thông Vận tải, các đơn vị khối kinh tế cảng; Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Xây dựng; Thuỷ sản; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,; Kiểm lâm; các đơn vị thuộc ngành than và UBND các huyện Vân Đồn, Yên Hưng, thị xã Cẩm Phả, thành phố Hạ Long xây dựng phương án, quy định và giám sát các hoạt động sản xuất và xây dựng phát triển kinh tế xã hội, các phương tiện đi lại trên Vịnh Hạ Long nhằm bảo vệ cảnh quan, môi trường và trật tự trị an trên Vịnh Hạ Long.

•  Tuyên truyền rộng rãi những giá trị tự nhiên và nhân văn của Vịnh Hạ Long, những quy định bảo vệ, kế hoạch, chủ trương, biện pháp quản lý, bảo tồn, khai thác Vịnh Hạ Long. Có hình thức, biện pháp phù hợp, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di sản Vịnh Hạ Long.

•  Tranh thủ sự giúp đỡ của các ngành Trung ương và địa phương tiến hành những hoạt động nghiên cứu khoa học về Vịnh Hạ Long, lập hồ sơ khoa học về hệ thống các giá trị tự nhiên và nhân văn của Vịnh Hạ Long, làm cơ sở cho việc hoạch định các chương trình, kế hoạch, biện pháp quản lý, bảo tồn, khai thác lâu dài Vịnh Hạ Long, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu về Vịnh Hạ Long.

•  Tổ chức bảo vệ, thu phí, quản lý và có kế hoạch sử dụng phí tham quan Vịnh Hạ Long một cách có hiệu quả, đúng pháp luật.

•  Tổ chức các dịch vụ và tham gia hoạt động vận chuyển khách du lịch trên Vịnh Hạ Long và các hoạt động giới thiệu, hướng dẫn cho khách tham quan Vịnh Hạ Long.

•  Tham gia thẩm định các dự án phát triển kinh tế – xã hội có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến Vịnh Hạ Long.

•  Tổ chức lực lượng và trang thiết bị cần thiết cho các hoạt động bảo tồn môi trường nước, bảo vệ đa dạng sinh học và cảnh quan Vịnh Hạ Long.

•  Tiến hành các hoạt động đối ngoại, mở rộng và tăng cường ảnh hưởng của Vịnh Hạ Long; từng bước nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn của cán bộ CNV; thu hút sự quan tâm đầu tư của các tổ chức quốc tế và người nước ngoài đối với khu Di sản, thu hút đông đảo du khách quốc tế tham quan Vịnh Hạ Long.

•  Tổ chức tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên Vịnh Hạ Long.

2. Những hoạt động quản lý và phát huy giá trị di sản hiện nay và trong thời gian tới

•  Hoạt động hiện nay

– Hoạt động quản lý nhà nước:

•  Việt Nam đã tham gia ký công ước quốc tế về bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới năm 1987. Do vậyviệc quản lý Vịnh Hạ Long phải tuân thủ theo nguyên tắc chung mà công ước Quốc tế đã đưa ra

•  Những văn bản pháp quy liên quan đến công tác quản lý bảo tồn Vịnh Hạ Long dần được hoàn thiện. Hiện nay, Chính phủ và UBND tỉnh đã ban hành 11 văn bản pháp quy liên quan đến công tác quản lý bảo tồn Vịnh Hạ Long, tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, cho việc quản lý bảo tồn và khai thác Vịnh Hạ Long, đặc biệt là những văn bản như: Luật Bảo vệ môi trường; Luật Di sản văn hóa; Quy chế quản lý Vịnh Hạ Long của UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành kèm theo quyết định 2522 ngày 4/11/1995; Thông tư ngày 19/12/1996 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường hướng dẫn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long… Đây chính là kim chỉ nam cho công tác quản lý bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long.

•  Triển khai thực hiện các nội dung quy hoạch Bảo tồn – phát huy giá trị VHL đến năm 2020 do Chính phủ đã phê duyệt.

•  Triển khi Bảo tàng Sinh thái Vịnh Hạ Long theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

•  Nghiên cứu khoa học, điều tra, khảo sát để làm rõ hơn các giá trị của Vịnh Hạ Long:

•  Nâng cao nhận thức về Di sản và năng lực quản lý cho cán bộ, nhân viên của Ban.

•  Thực hiện chương trình đưa giáo dục di sản vào trường học và tuyên truyền rộng rãi về các giá trị di sản Vịnh Hạ Long cho cộng đồng cư dân địa phương, khách du lịch, đồng thời lôi kéo họ tham gia bảo vệ giữ gìn Di sản.

•  Phối hợp chặt chẽ, thường xuyên và có hiệu quả với các ngành, các cơ quan có liên quan trong công tác quản lý, bảo tồn Vịnh Hạ Long.

•  Tham gia thẩm định các dự án phát triển kinh tế xã hội quan trọng trong khu vực Vịnh Hạ Long, nhằm đánh giá và hạn chế những tác hại của hoạt động phát triển kinh tế đối với việc bảo tôn.

– Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản

•  Tiến hành nhiều dự án tu bổ hang động, bến bãi, cầu tàu và xây dựng những công trình phục vụ cho sự phát triển du lịch, bên cạnh đó, vẫn giữ đảm bảo tốt cảnh quan tự nhiên và tránh được ô nhiễm môi trường.

•  Hoạt động đón tiếp khách du lịch: khách du lịch đến Vịnh Hạ Long tăng nhanh trong những năm gần đây: Năm 2000 đón 900.000 lượt khách, năm 2001 Vịnh Hạ Long đón 994.180 lượt khách, năm 2002 đón 1.281.691 lượt khách (tăng 28,5% so với năm 2001 trong đó số lượng khách nước ngoài chiếm xấp xỉ 50%).( Số liệu của Ban quản lý Vịnh Hạ Long ).

•  Tăng cường công tác quản lý các hình thức kinh doanh, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân phục vụ khách tham quan trên Vịnh; ngăn chặn, hạn chế những hiện tượng tiêu cực ảnh hưỏng đến môi trường văn hoá du lịch và cảnh quan môi trường Di sản.

•  Những định hướng hoạt động trong thời gian tới:

Thực hiện theo Quyết định số 142/2002/QĐ – TTG của Thủ tướng Chính Phủ về “Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long đến năm 2020” và Nghị quyết 09 của Tỉnh uỷ Quảng Ninh “ Về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long đến năm 2005 ”;

•  Tiếp tục thực hiện hoạt động quản lý nhà nước theo chức năng và nhiệm vụ của Ban quản lý Vịnh Hạ Long.

•  Tiếp tục khảo sát, lập hồ sơ khoa học về các giá trị đa dạng sinh học và văn hóa lịch sử – khảo cổ của Vịnh Hạ Long, tiến tới trình, đề nghị UNESCO công nhận những giá trị này.

•  Triển khai thực hiện dự án Bảo tàng sinh thái Hạ Long

•  Hoạt động phát huy giá trị di sản :

+ Khai thác tốt tiềm năng, mở rộng không gian và đa dạng hóa các loại hình và sản phẩm du lịch, … đồng thời khai thác hợp lý tiềm năng nuôi trồng và khai thác hải sản cũng như giao thông cảng biển. Tuy nhiên, việc khai thác và phát huy giá trị, tiềm năng di sản vẫn không nằm ngoài quan điểm “ vừa bảo tồn vừa phát huy ” giá trị Vịnh Hạ Long.

3. Trách nhiệm của cộng đồng đối với việc bảo tồn – phát huy giá trị Vịnh Hạ Long

Trách nhiệm chung: Vịnh Hạ Long là di sản của Việt Nam và cả nhân loại. Do đó, trách nhiệm bảo vệ Vịnh Hạ Long thuộc về tất cả những ai đang sống và làm việc trên trái đất không những vì thế hệ hôm nay mà còn vì những thế hệ tương lai.

•  Trách nhiệm của các cơ quan hữu quan đoàn thể trong nước, quốc tế và địa phương:

•  Luôn tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản, đặc biệt là những cơ quan có hoạt động trực tiếp trên Vịnh Hạ Long;

•  Tích cực cộng tác với Ban Quản lý Vịnh Hạ Long trên mọi phương diện đối với việc bảo tồn phát huy giá trị Di sản.

•  Nâng cao hiểu biết, trình độ nhận thức, kinh nghiệm quản lý của cán bộ nhân viên về di sản Vịnh Hạ Long.

•  Tuyên truyền và nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị Di sản.

•  Hưởng ứng những phong trào, hoạt động bảo tồn Vịnh Hạ Long

•  Trách nhiệm của cộng đồng sống trong khu vực và lân cận Vịnh Hạ Long:

•  ý thức được giá trị và tầm quan trọng của Di sản đối với đời sống cộng đồng.

•  Cộng tác, tham gia trong các lĩnh vực quản lý bảo tồn phát huy giá trị di sản Vịnh Hạ Long.

•  Tuyên truyền, quảng bá những giá trị Di sản

•  Trách nhiệm của khách du lịch

•  Tuân thủ nội quy tại địa điểm tham quan

•  Có ý thức bảo vệ môi trường, không xâm hại đến cảnh quan Di sản.

•  Tìm hiểu và tuyên truyền giá trị của Di sản, nhắc nhở mọi người hãy hành động vì cảnh quan, môi trường, vì Di sản thế giới.

* Trước đây, chúng ta vẫn quen dùng thuật ngữ ‘khu vực bảo vệ tuyệt đối’; “khu vực đệm; “khu vực phụ cận”. Song, gần đây, theo Luật Di sản văn hóa, người ta dùng thuật ngữ ‘khu vực I, khu vực II, và khu vực III” chứ không dùng như cũ nữa. Để cập nhật, chúng tôi xin sử dụng những thuật ngữ mới, theo Luật trên. Nhóm Biên soạn chú.

(1) Tham khảo “Tài nguyên và môi trường biển”, (5 tập), tập 5, Nguyễn Chu Hồi Chủ biên, NXB Khoa học và Kỹ thuật, H. 1998.

(2 ) Tức là thông thường có một lần nước lên và một lần nước xuống

(1) Nội dung, ý nghĩa, nguồn gốc văn bản của huyền thoại này còn đang nằm trong ‘trường nghi vấn’ và có nhiều điểu để bàn. Song, trước mắt, trong khi chờ đợi các nhà nghên cứu, nhà khoa học tìm đáp án cuối cùng, chúng ta tạm thời sử dụng. Nhóm biên tập chú.

•  Karst ( Cát xtơ): T ổng hợp các hiện tượng tự nhiên xảy ra trong các tầng đá hoà tan dưới tác dụng của nước trên mặt và nước ngầm. Địa hình Karst thường gồ ghề, lởm chởm, không thuận lợi cho việc đi lại, xây dựng…ccác địa hình Karst thường gặp: Địa hình đá tai mèo, phễu Karst, cánh đồng Karst…( Theo Từ điển địa chất , tập 1, NXB Khoa học Xã hội, H. 1978, trang 332, 333.

Theo TS. Trần Đức Thạnh, Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng thì, Karst là tên gọi xuất phát từ tên của một miền thuộc cộng hoà Xlôvênia (Nam Tư), nơi mà địa hình này được nghiên cứu lần đầu. Karst rất phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới. Sách Bách khoa toàn thư Địa lý định nghĩa Karst như sau: “Karst là những hiện tượng và quá trình xuất hiện trong các đá bị hoà tan do nước tự nhiên”. Sau quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Karst là một lãnh thổ có các dạng địa hình và thuỷ văn đặc biệt xuất hiện do sự kết hợp khả năng hoà tan của các đá và sự đập vỡ tạo ra các lỗ hổng thứ sinh của nó ”.

(2) Địa máng, đơn vị kién tạo lớn có những đạc trưng thể hiện tính chất hoạt động của vỏ trái đất. Địa máng đối lập với nền là đơn vị kiến tạo có tính chất vững bền, ổn định.( Theo Từ điển địa chất, sách đã dẫn, trang 197.)

(3) Địa luỹ, dạng kién trúc nổi cao được giới hạn ở hai bên bởi hệ thống hau hoặc nhiều đứt gãy nghịch (Theo Từ điển địa chất, SĐD, trang 196,197.)

(4) Địa hào, dạng kiến trúc sụt được khống chế bởi hai hoặc nhiều đứt gãy thuận. Sự hình thành địa hào có liên quan đến sự căng giãn ở vòmcủa khối nâng. Trầm tích ở trong địa hào có tuổi trẻ hơn các trầm tích ở hai bên phía ngoài của đứt gẫy. Còn gọi là Graben (Từ điển địa chất, SĐD, trang 189)

(1) Tham khảo các bài viết của GS. Tony Waltham và TS Trần Đức Thạnh.

(1) Các điểm khảo sát đó là: 1. Khu vực (K/V) đảo Đầu Bê; 2. K/V đảo Hang Trai; 3.K/V hòn Bù Xám; 4. Hòn Mây Đèn, hòn Cóc; 5. K/V hòn Vểu – Đầu Gỗ; 6. K/V hòn Kỳ Đà, Soi Ván – đảo Vạn Gió; 7. K/V đảo Cống Đỏ

(2) Khoảng 112 loài ĐV phù du, 292 loài thực vật phù du, 5 loài cỏ biển, 400 loài cá, 136 loài động vật đáy, 189 loài san hô, 166 loài rong biển, 14 loài thực vật ngập mặn. Đã phát hiện 435 loài thực vật bậc cao, 17 loài được xác định là đặc hữu của khu vực Vịnh Hạ Long, trong đó, 7 loài đã được văn phòng IUCN tại Hà Nội phát hiện năm 2000 (phát hiện thêm 10 loài).

(1 Nguồn: UBND thành phố Hạ Long

(2) Địa chí Quảng Ninh – Dân tộc, dân cư

(3) Theo ngành Du Lịch Quảng Ninh

(4) Số liệu điều tra ngày .14.2000, UBND thành phố Hạ Long cung cấp

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: