Ngày đầu tiên đến Nhật (sưu tầm phần 6)

ĐÔI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NARA

Thời kỳ Yayoi: các công cụ bằng đá cổ đại cùng các vật dụng đất nung thuộc thời kỳ Jomôn đã được tìm thấy trong phạm vi thành phố Nara; tuy nhiên, việc phát hiện những di chỉ thuộc thời kỳ Yayoi trong các khu vực của thành phố như tại khu Saki, khu Kashiwagi, khu Suruga, và khu Kubonoshô đã làm người ta tin rằng “các ngôi làng” này được xây dựng trên các vùng đất phù hợp cho việc trồng lúa.

Thời kỳ Kofun: Trong thế kỷ thứ tư, nhiều gia tộc có ảnh hưởng và quyền lực đã để lại những lăng mộ đồ sộ tại lòng chảo Yamato.

Trong đó, hùng mạnh nhất là gia tộc Wani, sau này đổi tên thành gia tộc Kasuga và đặc biệt mạnh mẽ trong khu vực quanh thành phố Nara cho tới cuối thế kỷ thứ sáu là một nhóm gồm gia tộc Ôya và Ono. Một thị tộc có quyền lực khác, cư trú ở miền Tây Bắc thành phố Nara là gia tộc Hijikata, sau này nổi tiếng dưới tên gọi thị tộc Sugawara.

Thời kỳ Nara: vào năm 710 (năm Wadô thứ 3), kinh đô được dời từ Fujiwara-kyô ở Asuka về Heijô-kyô tại Nara, trở thành kinh đô cố định đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản (trước đó, Thiên hòang đã từng dời đô đến hơn 60 lần!). Trong vòng 70 năm sau đó, Heijô-kyô trở thành kinh đô vô cùng thịnh vượng của nước Nhật cổ. Thành phố này tọa lạc trên khu vực rộng 4.3 km từ tây sang đông và 4.8 km từ bắc xuống nam cộng thêm một khu vực rộng 1.5 km từ đông sang tây và 2.4 km từ bắc xuống nam nằm về phía đông thành phố, tên gọi là Gekyô (hay Kinh đô Bên ngòai). Thành phố này, rực rỡ với những cung điện tuyệt đẹp, những ngôi chùa và dinh cơ quý tộc, được chia một cách có chủ đích thành từng khu bởi con phố chính, Suzaku-ôji, và những con phố lớn nhỏ khác. Trong đó, phố chính Suzaku-ôji chạy từ Heijô-kyô thẳng xuống hướng nam xuyên qua trung tâm thành phố. Bản quy họach quy mô lớn này được cho là sao chép Trường An, kinh đô của nhà Đường bên Trung Hoa. Vào đỉnh cao của thời kỳ này, kinh đô Nara có dân số vào khỏang 100.000 người cộng thêm rất nhiều khách vãng lai từ các vương quốc khác, bao gồm cả nhà Đường. Chính cư dân thời kỳ này đã tạo nên sự thăng hoa của văn hóa thời kỳ Tempyô.

Những tu viện Phật giáo khổng lồ được dựng lên tại kinh đô mới này và mau chóng tạo được thế lực trong triều chính. Năm 784, Thiên hòang Kammu buộc phải dời đô từ Heijo-kyo (Nara) về Nagaoka và rồi chuyển tới Heian-kyo (Kyoto) nhằm bảo vệ vị thế của thiên hòang và triều đình, thóat khỏi ảnh hưởng can thiệp lên công việc triều chính của các ngôi chùa đầy thế lực tại Nara. Tại Kyoto, kinh đô tiếp tục tồn tại trong suốt hơn một ngàn năm.

Một đặc điểm của Nara và thời kỳ Heian là sự suy tàn dần dần của những ảnh hưởng từ Trung Hoa, tuy chúng vẫn còn tác động rất mạnh mẽ. Nhiều kiến thức từ nước ngòai mang về tới thời này đã dần được “Nhật hóa”. Một ví dụ cụ thể là để phổ biến cho tầng lớp bình dân, nhiều trung tâm hành chính đã được thành lập để hỗ trợ hệ thống chính quyền vốn được sao chép từ mô hình của Trung Hoa. Trong nghệ thuật cũng vậy, những khuynh hướng bản địa mau chóng trở nên phổ biến. Sự phát triển của hệ ký tự Kana đã giúp hình thành nền văn học Nhật Bản. Rất nhiều bản kinh Phật vừa được nhập từ Trung Hoa trong thời Heian cũng đã được Nhật hóa. Điều này thể hiện khá rõ trong kiến trúc: các chùa Nara cũng sử dụng hệ đấu-cũng như Trung Hoa, nhưng kết hợp khá nhuần nhuyễn với những tiêu chuẩn Nhật Bản, vật liệu Nhật Bản và không gian Nhật Bản.

Sau khi Heian-kyô bị dời đi: Sau khi kinh đô bị dời về Kyôto, phế tích Heijô-kyô nhanh chóng trở thành ruộng lúa. Tuy nhiên, hầu hết những ngôi chùa lớn đều còn lại nguyên vẹn, cho phép Nara tiếp tục tồn tại trong lịch sử như một thành phố sở hữu vô số đền chùa. Khởi đầu là sự chấn hưng ảnh hưởng của chùa Kôfuku-ji, kế đó là chùa Tôdai-ji và Gangô-ji, thành phố thực sự trở thành một thành phố lịch sử, biến Nara trở thành như ngày nay.

Cuộc tấn công của lãnh chúa Heike (thị tộc Taira): Trong cuộc tấn công của thị tộc Taira năm 1180 (năm Jishô thứ 4), công trình Daibutsu-den (Đại Phật Điện, nơi đặt bức tượng Phật khổng lồ) bị thiêu rụi và Nara đã gần như bị tiêu hủy. Tuy nhiên, không lâu sau, chùa Tôdai-ji và Kôfuku-ji được xây lại và thị trấn Nara lại được tái thiết xinh đẹp như xưa. Với rất nhiều ngôi làng đã tồn tại trong khu vực này từ cuối thế kỷ 13 và nhờ có sự phát triển vững vàng của nền thương mại và tiểu thủ công nghiệp, Nara đã nở rộ thành một kinh đô thứ hai, bên cạnh Kyoto, cho tới khi nó bị qua mặt do sự phát triển của Sakai vào cuối thế kỷ 15. Dần dần, những ngôi làng mới được thành lập, và tới đầu thế kỷ 16, đã có 200 làng ở đây với dân số tổng cộng là 25.000 người. Cùng thời gian này, hàng bông đã qua tẩy trắng của Nara và hàng đồng thau của Nishinokyô đã trở thành thứ hàng rất cao giá tại Kyôto, trong khi những sản phẩm khác của Nara như gươm, đồ sơn mài, quạt nan cùng búp bê thì được xuất rất nhiều về Sakai.

Lần thứ hai tai họa xảy đến với pho tượng Phật khổng lồ: năm 1560 (năm Eiroku thứ 3), Hisahide Matsunaga cho xây lâu đài Tamon trên núi Mikenji-yama. Đấy là lần đầu tiên trong lịch sử Nara bị cai trị bởi một chiến binh. Bảy năm sau, trận ác chiến giữa Hisahide và lãnh chúa vùng Miyoshi lan tới Nara và Daibutsu-den (Đại Phật Điện – LTD) một lần nữa bị thiêu rụi. Tuy nhiên lần này nỗ lực phối hợp của tòan thể cư dân của thị trấn Nara đã giúp giới hạn bớt những thiệt hại gây ra bởi cuộc chiến, và mau chóng mọi ngôi làng trong vùng đã cùng chung sức khôi phục lại Nara.

Thời kỳ Edo: Trong thời kỳ Edo, Nara được đưa vào một lãnh địa nằm dưới quyền cai trị trực tiếp của quan tổng đốc do triều đình Mạc phủ cắt cử. Tất cả những thị dân cao tuổi có uy tín đều được chọn để nhận một chức vị từ quan tổng đốc của Mạc phủ để đứng ra điều hành thị trấn. Trong một cuộc thống kế dân số tiến hành vào cuối thế kỷ 17, trong tất cả thị xã làng mạc trong khu vực có tổng cộng là 35.000 dân. Vào đầu thời kỳ Edo, Nara nở rộ với những mặt hàng cao cấp như là bông trắng cũng như rượu sake, mựs đen, áo giáp và mũ trụ, gươm và quạt, biến Nara thành một thị trấn thủ công nghiệp.

Khởi đầu thời kỳ Minh trị: Từ giữa thời kỳ Edo, Nara đã nổi tiếng là một thị trấn du lịch. Nhưng qua thời Minh Trị, Nara đã bước vào thời gian trì trệ. Sự ban bố Haibutsu-kishaku (bãi bỏ Phật giáo và những lời giảng của Shaka để chuyển về đề cao Thần đạo như Quốc đạo) ảnh hưởng lớn tất cả những ngôi chùa lớn. Rất nhiều chùa bị giải tán và thậm chí ngôi tháp năm tầng của chùa Kofukuji còn bị chuẩn bị đem rao bán. Tuy nhiên, tới năm 1871, một đạo luật nhằm bảo vệ những di sản lịch sử quý giá được ban bố. Nhờ đó, giá trị của những ngôi chùa cổ và các tượng Phật đã dần dần được nhìn nhận.

Cùng với việc ban bố Haihan-chiken (kết thúc hệ thống Hán học và thiết lập hệ thống cai trị kiểu phương Tây) năm 1871 (năm Minh Trị thứ 4), tổng trấn Nara nắm tòan quyền điều hành vùng Yamato, và một trụ sở chính quyền do Trung ương thành lập được dựng lên ở Nara. Tuy nhiên, tới năm 1876 (năm Minh Trị thứ 9), trấn Nara bị bãi bỏ, và vùng Yamato, tiếp theo sau Sakai, bị sát nhập vào trấn Osaka. Chuyện này rất bất lợi cho Nara, khi nó vừa có được cơ hội để hồi sinh khi trở thành nơi đặt trụ sở chính quyền.

Năm 1887 (năm Minh Trị thứ 20), trấn Nara được tái lập và trụ sở lại được chuyển về Nara, giúp hồi sinh thị trấn. Hai năm sau, khi chính quyền tự trị được thiết lập, vùng này qua khảo sát đã cho thấy rằng dân số không đủ để trở thành một thành phố. Cuối cùng, vào năm 1898 (năm Minh Trị 31), thể chế thành phố biết bao mong chờ đã được chấp thuận. Điều này đã đem tới đây đường xe lửa nối với Osaka và Kyoto, các công ty và ngân hàng được xây dựng, việc hòan tất công viên Nara đã có thể được tiếp tục, và Nara thực sự bắt đầu trở thành một trung tâm hành chính. Dưới góc độ hiện đại hóa, thành phố Nara đã có thể bước vào thời kỳ phát triển vững bền.

Tóm lại, tuy chỉ giữ vai trò kinh đô của Nhật Bản trong một thời gian ngắn (từ 710 tới 784), Nara vẫn có được tới 8 công trình được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, trong đó nổi tiếng nhất là chùa Todaiji, chùa Kofukuji và đền Kasuga-Taisha.

Công viên Nara (Nara Koen) là một công viên rộng ở trung tâm Nara, xây dựng vào năm 1880. Nơi đây chứa hầu hết những thắng cảnh của Nara như Chùa Tôdaiji, Đền Kasuga Taisha, Chùa Kofukuji và Bảo tàng Quốc gia Nara, một bảo tàng tập trung vô số những sưu tập về nghệ thuật Phật giáo. Đây cũng là nơi ở của hàng trăm con hươu hoang dã tự do lang thang. Theo Thần đạo Shinto, hươu được xem là sứ giả của các thần linh, do đó những con hươu ở Nara đã trở thành biểu tượng của thành phố và thậm chí được đăng kí để thành Tài sản Quốc gia. Lũ hươu được tự do lang thang khắp công viên, có lẽ cũng nhờ phân của chúng gồm nhiều hạt nhỏ như đầu ngón tay, khô và không dính bết, không hôi lắm và được các nhân viên liên tục quét dọn.

Lọai đặc sản bánh trái nổi tiếng nhất của Nara là shika-senbei, được bày bán khắp mỗi góc phố và tại mọi dãy bán đồ lưu niệm. Tuy nhiên xin bạn đừng thử ăn bánh, shika-senbei có nghĩa là bánh xốp bột gạo dành cho hươu ăn ! (shika là con hươu, senbei hay ôsenbệ là lọai bánh xốp bột gạo đặc sản của Nhật). Một số con hươu đã đạt tới trình độ điêu luyện, tức biết quỳ xuống để xin bánh của khách du lịch! Hươu Nara chạy khắp nơi theo du khách để đòi ăn ôsenbệ, đôi khi lộng hành quá mức, quấy nhiễu mọi người, làm bọn trẻ con khóc tóang và các cô gái hét vang vì sợ.

Ngòai bánh ôsenbệ, có một món đặc sản địa phương khác là Kakino hazushi, tức sushi cuốn lá hồng, vốn có nguồn gốc từ vùng Yoshino lân cận. Yamato-cha là một đặc sản khác của Nhật, tức là nước trà xanh, vị hơi chát, uống mát rất đã khát trong cái nóng của mùa hè tháng Chín ở Nhật. Tại Nhật, tôi thấy thứ nước trà này, đóng vào chai nhựa 500 ml như nước ngọt, còn phổ biến hơn cả Coca Cola.

NGUỒN GỐC TÊN GỌI NARA

Có một huyền thọai phố phường về nguồn gốc tên gọi của thành phố “Nara” rất phổ biến đối với người dân Triều Tiên, cho rằng từ “Nara” xuất phát từ cách phát âm tương tự của từ “quốc gia” trong tiếng Triều Tiên. Tuy nhiên, điều này thiếu thuyết phục do đấy là một từ trong tiếng Triều Tiên hiện đại và ít có căn cứ lịch sử nào để biết được ngôn ngữ cổ Baekje thực tế ra sao vào thời kỳ Nara được hình thành. Hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử và ngữ văn đều cho rằng tên gọi của thành phố bắt nguồn từ tiếng Nhật “nadaraka” (なだらか), vốn có nghĩa là một vùng đất bằng phẳng.

Công trình đầu tiên là CHÙA KOFUKU-JI (CỔ PHÚC TỰ – 興福寺)

Kiến trúc đặc sắc thứ ba của kinh đô Nara là chùa Kofuku-ji, một Di sản Văn hóa Thế giới. Chùa Kofuku-ji là một trong Thất Đại tự của Nara, đã được viết tới trong tác phẩm bất hủ “Truyện Genji” của nữ sĩ Murasaki. Kofuku-ji là chùa bản tộc của thị tộc đầy quyền lực Fujiwara và là một trong những ngôi chùa hàng đầu của tông phái Hosso. Cùng với việc thiết lập kinh đô mới tại Heijo-kyo (Nara) vào năm Wado thứ ba (710 SCN), chùa Umayasaka (xây năm 669 SCN) được chuyển từ Asuka ở Kyoto tới chỗ mới và đổi tên thành Kofuku-ji. Theo dòng thời gian, chùa đã từng 5 lần bị hỏa họan thiêu rụi và cũng 5 lần được xây lại ngay sau đó. Ngôi chùa ngày nay là bản sao chính xác của nguyên gốc, được xây lại vào năm 1426.

Tháp Gojunoto (ngôi tháp năm tầng) của chùa Koufuku-ji chính là biểu tượng của Nara. Tháp cao 50 m, theo phong cách tháp Trung Hoa, là ngôi tháp cao thứ hai Nhật Bản, chỉ đứng sau tháp chùa Toji ở Kyoto. Tháp này cũng đả được xếp hạng di sản quốc gia. Ngôi tháp gốc vốn được xây trong thời Tenpyo nhưng qua năm tháng nó bị hủy họai bởi nhiều yếu tố. Ngôi tháp ngày nay được xây trong thời Muromachi. Do ngôi tháp năm tầng có thể trông thấy được từ mọi hướng, nó thường được dùng để điểm mốc cho mọi người khỏi lạc đường, trong đó góc nhìn từ hồ Sarusawa là đẹp nhất.

Tháp Gojunoto

Bắt gặp một cặp người Việt đi qua, chào hỏi thì biết họ sống ở Kyoto. Vẻ ngoài chẳng khác gì người Nhật.

Kể từ khi Chùa Kôfuku-ji được đặt dưới sự bảo trợ của thị tộc Fujiwara, việc xây dựng các điện của nó đều được điều hành bởi các hòang đế và nữ hòang, khiến Kôfuku-ji có thể tiếp tục phát triển ảnh hưởng của mình dưới sự điều hành trực tiếp của triều đình. Sau thời kỳ Heian, rất nhiều công trình của chùa đã bị thiêu cháy. Tuy nhiên, với sự phục hồi của thị tộc Fujiwara, những công trình ấy đã mau chóng được xây dựng lại cùng thời kỳ. Ở đỉnh cao quyền lực của thị tộc Fujiwara, chùa gồm tổng cộng trên 150 công trình. Theo như “Truyện Heike”, các thầy tu-chiến binh của Kofukuji đã liên kết với hòang tử Takakura để chống lại nhà Taira. Vào năm 1180, lãnh chúa Taira Kiyomori gửi một đại diện tới đàm phán với các thầy tu. Tuy nhiên, các nhà sư này đã bắt lấy 60 cận vệ của ông ta, chặt đầu họ rồi đem treo rải dọc bờ hồ Sarusawa. Sự sỉ nhục này đã trực tiếp dẫn tới việc Nara bị tấn công và đốt cháy. Ngày nay, chỉ còn 6 công trình trong số đó là tồn tại. Bốn trong số đó đã được công nhận là Di sản Quốc gia.

Đông Kim Điện, bên trong có tượng Yakushi Nyorai – Dược Sư Lưu Ly Quang Phật (Bhaisajyaguru). Pho tượng được Thiên hòang Shomu đặt vào trong điện vào năm 726 để cầu mong Hòang hậu Gensho mau khỏi bệnh. Bức tượng đã được tu sửa lại vào lần gần đây nhất là năm 1415.

Yakushi Nyorai – Phật Dược sư

Nam Bát giác điện (Nanendo-den). Được xây dựng lần đầu năm 813 và công trình đang tồn tại hiện nay là bản sửa chữa của năm 1789.

Chỗ rửa tay trước khi vào điện. Ở Nhật, tất cả những nơi linh thiêng đều có những chỗ rữa thế này để rữa tay và súc miệng (làm sạch mình) trước khi bước vào.

Đường xuống hồ Sarusawa

Kofuku-ji cũng là một ví dụ tiêu biểu cho việc kết hợp hài hòa và yên bình giữa các tôn giáo tại Nhật Bản. Năm 937, một nhà sư của Kofuku-ji đã nhìn thấy trong giấc mơ của mình vị thần Shinto của đền Kasuga, xuất hiện dưới vẻ ngòai của một vị Phật. Vị thần yêu cần được trở thành người bảo hộ cho chùa, và tới năm 947, sự hợp nhất giữa đền Kasuga và chùa Kofuku-ji đã hòan tất khi các nhà sư đi tới đền Kasuga để thực hiện những nghi lễ Phật giáo.

Chùa Kofuku-ji mau chóng trở thành một trung tâm quan trọng để nghiên cứu Phật giáo, đào tạo ra rất nhiều cao tăng. Cùng với sự suy tàn của thị tộc Fujiwara, Kofuku-ji cũng đi xuống. Sau Cải cách Minh Trị (1868), chùa phải sáp nhập với Học viện Chân ngôn tông (Shingon).

Chào bạn Dan Ngoc

Cảm ơn phần giải thích biểu tượng “ giàn cho gà đậu” . Hôm qua LVH google cái giàn này nhưng do không biết tiếng Anh mô tả bằng từ gì nên không tìm thấy . Tuy nhiên có tìm được một tư liệu cũng na ná giống của bạn nhưng lại không thấy noí đến cái giàn . Đây là phần kèm theo . Chắc khi nào bạn viết đến phần giàn cho gà đậu ( nếu có ) bạn viết kỹ một chút nhé . Cảm ơn bạn trước vì LVH rất muốn tìm hiểu các ý nghĩa thực sự thêm của nó .

http://www.evan.com.vn/Functions/WorkContent/?CatID=11&TypeID=54&WorkID=1328

Các thần thoại tiếp theo kể về sự sắp xếp cuộc sống trên thế gian. Thần Izanagi đã phân định thế giới cho các con mình rất rạch ròi. Amaterasu và Susanoo được sống ở xứ Trời (nước Takamagahara). Tsukiyomi ngự tại vương quốc bóng tối (nước Yominokuni). Tuy nhiên, hai chị em Amaterasu và Susanoo thường xuyên xích mích với nhau. Khi nữ thần gieo hạt thì nam thần gieo tràn lên trên. Khi thần chị ngăn đồng thành các thửa ruộng thì thần em phá bờ đi, lấp hết các mương dẫn nước. Rồi khi bà chị dệt vải thì người em quấy rối cung điện, ném cả vào người nữ thần. Vì vi phạm những tội nặng như vậy nên các vị thần tối cao đã quyết định trục xuất Susanoo ra khỏi xứ Trời, lưu đầy tại vùng Izumo – vương quốc biển cả xa xôi.

Lại nói về Amaterasu. Sau tất cả những hành vi của Susanoo, nữ thần nổi cơn thịnh nộ, lánh vào Thiên Nham động của mình. Toàn bộ cõi trời và đất lâm vào cảnh tối tăm. Tai hoạ xuất hiện hàng loạt. Thần ác hoành hành dữ dội. Chư thần phải nhóm họp bàn cách cứu thế gian. Theo kế của thần Tư tưởng Omoikane, các thần treo một chiếc gương trước cửa động, sau đó tụ tập xem nữ thần Nghệ thuật Uzume nhảy điệu múa thoát y. Hình hài trần trụi của nàng vũ nữ khiến các thần cười ầm ĩ. Thấy náo nhiệt, Amaterasu bực bội lên tiếng:

“Ta tưởng vắng ta thì Đồng Trời cao phải tăm tối và Đồng Lau sậy hẳn phải âm u. Thế mà Ameno Uzume lại thản nhiên chơi đùa và tám trăm vạn thần cười cợt được sao?”

Nữ thần Amaterasu (trích đoạn tranh khắc Nhật Bản)

Uzume liền trả lời rằng đã có vị thần khác còn chiếu sáng hơn thần Thái dương nữa kia. Amaterasu liền bước ra xem sự thể thế nào. Nàng nhìn thấy một tiên nữ vô cùng lộng lẫy nhưng không biết đó chính là hình bóng của mình, liền bước tới xem. Thừa cơ, Tazikarao – vị thần Sức mạnh – dùng một hòn đá lấp cửa hang. ánh sáng lại trở về với khắp vũ trụ. Chiếc gương về sau được nữ thần ban cho con cháu lưu giữ. Cùng với chiếc kiếm và chuỗi vòng ngọc, chiếc gương là một trong ba báu vật linh thiêng của người Nhật Bản từ đó.

Bài viết về du lịch ba lô tại Nhật của bạn càng ngày càng hay và nhiều chi tiết đời thường , thật thú vị khi kể chi tiết cô vợ xinh đẹp của DanNgoc giận ông chồng hậu đậu vì lỡ làm rớt CanonA95 . Hoàn cảnh này giống LVH quá , hồi đó tớ cũng hậu đậu làm rơi cái Nikon Coolpix 5000 tiếc đứt cả ruột , nhưng lỗi là do ông Đức to kều đụng phải . Sau này rút ra một kinh nghiệm là không bao giờ cầm Digital camera khơi khơi mà LUÔN LUÔN phải quấn vào cổ tay cái dây đeo nho nhỏ của nó , ai lỡ đụng vào mình thì nó tuột khỏi tay nhưng không rơi xuống đất .

Nếu lần sau có dịp đổi camera , bạn nên mua cái Canon IXUS 750 ( bên Nhật gọi là IXY 700 , còn thị trường bên Mỹ gọi là Power Shot SD 550 ) chụp đẹp hơn A95 rất nhiều ( 7.0 MP ) ,giá chênh hơi nhiều ( 480 USD ) nhưng có thể chấp nhận được vì cho những tấm ảnh du lịch tuyệt đẹp mà máy thì gọn .

Ảnh của bạn tuy vài tấm hơi tối nhưng vẫn khá đẹp , lần sau đi du lịch hai vợ chồng có thể tự chụp bằng cách mua cái chân máy China mini giá khoảng 110.000 Đ , nó nhẹ thôi và gọn lắm , bán ở các tiệm ảnh . Đỡ mất công phải nhờ vả và đặc biệt hình không bị rung do ngươì nhờ chụp không có kinh nghiệm

Cám ơn bác LVH nhiều. Thực ra thì tớ không rành về máy chụp ảnh, nhất là tay tớ bị run nên rất khó chụp vững. Tuy nhiên, những phần sau hình ảnh sẽ đẹp rất nhiều vì cảnh vật ở Nhật đẹp quá (sẽ còn đến Hiroshima, Miyajima, Kyoto, Nagoya, Nikko, Yokohama và Tokyo) và cuộc sống khá thú vị.

Bọn tớ cũng có giá chụp trước khi đi Nhật, nhưng rồi lại để quên.

Còn về cổng O-torii, tớ tham khảo cả cuốn bạn nói (của Nhật Chiêu) và cuốn “Cành Sakura”. Tuy nhiên, do biết từ Torii là con gà nên giải thích O-torii là giàn gà đậu nghe hợp lý hơn. Tòan bộ tôn giáo cổ Nhật Bản đều gắn với chiếc cổng này.

Mua kem trà xanh, một thứ kem đặc biệt của Nhật Bản. Vị chan chát.

Đi dọc Nara koen để tới chùa Todaiji.

Đường xá Nara

Thầy tu khất thực

Hươu ngày càng nhiều theo mật độ dày đặc của du khách. Đã đến nơi.

CHÙA TÔDAI-JI (“ĐÔNG ĐẠI TỰ” – 東大寺), DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI

Todai-ji, một quần thể chùa Phật, được xây từ năm 743 và hòan thành năm 751, trong một vùng chia thành 64 khu thuộc phần phía Đông của Nara. Đây chính là thời điểm ảnh hưởng của Phật giáo đang ở đỉnh cao, giữ vai trò quốc đạo. Chùa trở thành một trong những ngôi chùa lâu đời và nổi tiếng bậc nhất, đồng thời là một thắng cảnh tuyệt vời của Nhật Bản.

Todaiji nhìn từ vệ tinh

Trong thời kỳ Tempyo, nhân dân phải chịu đựng rất nhiều thiên tai và dịch bệnh. Năm 685, Thiên hòang Temmu hạ chỉ rằng mọi gia đình trên khắp đất nước đều phải lập trong nhà một bàn thờ Phật. Người kế vị ông, Thiên hòang Shomu, còn đi xa hơn nữa. Ngài đã hạ chỉ rằng mỗi tỉnh của Nhật đều phải xây dựng một ngôi chùa chính để đòan kết thống nhất tòan quốc. Hai năm sau, năm 743, ngài ra lệnh cho xây dựng chùa Todai-ji, ngôi chùa trung tâm của tòan cõi Nhật Bản, cầu kỳ lộng lẫy và đồ sộ nhất. Đồng thời, ngài ban hành một sắc lệnh theo đó người dân phải đúc ra một pho tượng Phật, với niềm tin sâu sắc rằng quyền năng của Đức Phật có thể che chở cho mọi người. Phải chăng, bản thân cái tên Đông Đại Tự đã thể hiện tham vọng của Thiên hòang, muốn xây dựng một trung tâm Phật giáo tại phía Đông sánh ngang cùng Tây Tạng?

Nandaimon (Nam Đại Môn) của Todai-ji (Đông Đại Tự). Xây dựng từ năm 1199 theo đúng hình dáng như ngày nay. Cổng có 18 cột chống, mỗi chiếc cao 20 m với đường kính hơn 1m.

Tượng gỗ Hộ pháp Nio (Thần sét hộ pháp) đứng hai bên của Nandaimon (Nam Đại môn). Mỗi tượng có chiều cao gần 8 mét, tuổi thọ trên 800 năm, được tạc khắc bởi người thợ chạm gỗ bậc thầy Unkei. [Chiếc lưới thép phía trước là để ngăn chim và dơi]. Tượng được ghép bởi 3.115 mảnh gỗ.

Trung Môn (Chumon)

Và rồi là ….

Đại Phật điện

Theo truyền thuyết, có đến 420.000 người cúng tiền và 2.180.000 người tham gia xây dựng chùa. Bản thân bức tượng Đại Phật là do một nghệ sĩ đến từ vương quốc Baekje, Triều Tiên, thiết kế. Con số người tham gia xây chùa tương đương gần một nửa dân số Nhật Bản thời kỳ đó, có lẽ là đã quá phóng đại. Theo những tính tóan ngày nay, quá trình xây dựng Todai-ji cần đến 1.665.000 ngày công, vẫn là một số hết sức khổng lồ.

Bức tượng Daibutsu (Đại Phật) – bức tượng Phật bằng đồng mạ vàng lớn nhất thế giới – nằm trong một công trình làm hòan tòan bằng gỗ – Daibutsu-den (Đại Phật Điện). Trong khuôn viên chùa, trải dài 1 cây số theo suốt trục Bắc-Nam và Đông-Tây tính từ Đại Phật điện là hàng lọat công trình khác, gồm các điện và kho báu, trong đó có bảy công trình là Di sản Quốc gia. Là một trong những ngôi chùa cổ lớn nhất Nhật Bản, Todaiji cũng sở hữu vô số báu vật văn hóa với hơn 20 pho tượng Phật và tác phẩm nghệ thuật được xếp lọai Di sản Quốc gia. Quần thể nguyên gốc bao gồm cả hai ngôi tháp bảy tầng cao 100 m, có lẽ là ngôi tháp cao nhất thế giới thời kỳ đó. Những ngôi tháp này ngày nay đều đã bị động đất phá hủy hòan tòan.

Ngôi Đại Phật Điện nguyên bản được hòan thành năm 751, có chiều cao 48m, kích thước mặt bằng 50m x 88m (7 nhịp theo hướng Bắc-Nam và 11 gian theo hướng Đông-Tây). Lần xây dựng sửa chữa gần nhất của Đại Phật Điện là vào năm 1709, trông vẫn rất ấn tượng với hình dáng giống như nguyên bản ban đầu, có bề ngang thu ngắn bớt một phần ba so với bản gốc. Ngày nay, điện có chiều cao 48 mét, mặt bằng chữ nhật 56m x 50m, là công trình gỗ lớn nhất thế giới. Đây là một ví dụ rất cụ thể của những ngôi chùa vĩ đại mang tính biểu tượng xuất hiện vào thời Nara với kích thước và kinh phí xây dựng khổng lồ được xây trong lòng thành phố. Dù có kích thước đồ sộ như vậy, người ta vẫn cho rằng Đại Phật Điện còn chưa đủ rộng để chứa pho tượng. Bên trong ngôi điện ngày nay, khách tham quan phải rất chật vật khi tìm khỏang rộng cần thiết để ngắm nhìn được tòan bộ pho tượng.

Quần thể bao gồm không chỉ Đại Phật Điện, mà còn cả hai ngôi tháp 7 tầng, một giảng viện và khu tịnh xá. Một dãy hồi lang bao quanh Đại Phật Điện tương tự như thiết kế mặt bằng của quần thể chùa Horyu-ji nổi tiếng. Tòan bộ quần thể đối xứng đăng đối trải dài theo trục Bắc – Nam, đi qua Nam Đại Môn (Nandaimon), Trung Môn (Chumon), Đại Phật Điện (Daibutsu-den) và giảng viện. Rất nhiều công trình lịch sử, bao gồm Shôsô-in (Kho báu Hòang gia) – nơi chứa kho bảo vật của Thiên hòang Shomu, cũng nằm cạnh khuôn viên ngôi chùa khổng lồ này.

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm : 22:57:35 Saturday, February 24, 2007

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: