Nhật Bản phần 2

Nhật hoàng,Lịch sử Nhật Bản,Từ Minh Trị tới hiện tại,Hiến pháp Nhật Bản,Bộ máy Chính trị,Kinh tế – Sản nghiệp – Mậu dịch

Nhật Hoàng

Q: Nhật hoàng đầu tiên là ai?
Q: Nguồn gốc của Nhật hoàng là gì?
Q: Cho đến nay, có tất cả bao nhiêu Nhật hoàng?
Q: Nhật hoàng hiện nay là người như thế nào?


Q: Niên hiệu được xác định như thế nào?
Q: Công việc của Nhật hoàng hiện nay là gì?
Q: Phụ nữ có thể trở thành Nhật hoàn hay không?
Q: Hiện tại, ai được nói là thuộc về hoàng tộc?

Q: Nhật hoàng đầu tiên là ai?

Theo các cuốn sách ghi lại lịch sử cổ đại Nhật Bản như Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ thì Thiên hoàng đầu tiên của Nhật là Thần Vũ Thiên hoàng sống vào khoảng năm 660 trước công nguyên. Tuy nhiên kết luận này hoàn toàn không có căn cứ chính xác nào. Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ được biên soạn vào thế kỷ thứ 8, có thể nói chắc rằng giả thiết về Thần Vũ Thiên hoàng là mang tính thần thoại. Hiện thực hơn thì người ta cho rằng Sùng Thần Thiên hoàng là Thiên hoàng đầu tiên trong lịch sử nhưng dựa vào ghi chép còn sót lại đến ngày nay thì Thiên hoàng Suiko (Suy cổ) – người trị vị từ năm 592 tới năm 628, mới là Thiên hoàng đầu tiên. Đây là thời kỳ của thái tử Shotoku (Thánh Đức) – nhà cải cách lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản cổ đại.

Q: Nguồn gốc của Nhật hoàng là từ đâu?

Dân tộc Nhật từ đâu tới cũng không biết, nước Nhật sinh ra như thế nào cũng không rõ ràng. Chính vì vậy nguồn gốc của Nhật hoàng cũng là một câu hỏi chưa có lời đáp. Có rất nhiều giả thiết về tổ tiên của Nhật hoàng: Thuyết Himiko (Ty di hô) của nước Yamatai, thuyết Matsuei (Mạt Duệ) của nước Kuna (Cẩu nô), thuyết một hào tộc của vùng Đại Hoà …Tuy nhiên có thể nói chắc chắn rằng tổ tiên của Nhật hoàng phải là con cháu của thế lực đã lập nên triều đình Yamato.

Q: Cho đến nay, có tất cả bao nhiêu Nhật hoàng?

Tất nhiên không thể biết được chính xác có bao nhiêu Nhật hoàng tất cả vì không có tư liệu lịch sử. Theo cuốn Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ thì Nhật hoàng Bình Thành hiện nay là đời thứ 125 tính từ đời thứ nhất là Thần Vũ Thiên hoàng.

Q: Nhật hoàng hiện nay là người như thế nào?

Sau khi thua trận trong chiến tranh thế giới thứ 2, địa vị của Nhật hoàng thay đổi rất nhiều. Theo hiến pháp mới, Nhật hoàng từ vị trí nguyên thủ quốc gia chuyển sang biểu tượng của quốc gia. Người đón nhận những thay đổi lớn lao này chính là Chiêu Hoà Thiên hoàng – phụ thân của Nhật hoàng hiện nay. Khi chiến tranh kết thúc, Nhật hoàng 11 tuổi. Sau đó dưới sự bảo hộ của Hoa Kỳ, Nhật Bản bắt đầu xây dựng chế độ dân chủ. Trong bối cảnh như vậy, Nhật hoàng không tiếp thu kiểu giáo dục dành cho đế vương mà được dạy học bởi một giáo viên tiếng Anh người Mỹ, theo kiểu giáo dục mới. Năm 1989 Nhật hoàng Bình Thành chính thức lên ngôi. Nhật hoàng là một người ôn hoà theo chủ nghĩa hoà bình.

Q: Niên hiệu được quyết định như thế nào?

Ngày xưa niên hiệu được quyết định không chỉ khi Nhật hoàng cũ băng hà, Nhật hoàng mới lên ngôi mà bao gồm cả các dịp khác: Khi Nhật hoàng truyền ngôi sớm, khi muốn cầu cho đất nước thái bình, khi có sự chuyển giao quyền lực trong bộ máy Mạc phủ tướng quân. Tuy nhiên, kể từ thời Minh Trị trở đi thì niên hiệu được quyết định tính từ khi Nhật hoàng lên ngôi cho tới khi Nhật hoàng đó băng hà. Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, mặc dù Nhật hoàng chỉ là biểu tượng của quốc gia nhưng cách quyết định niên hiệu này vẫn không thay đổi. Sự thay đổi duy nhất là từ trước tới nay nếu niên hiệu là do Thiên hoàng quyết định thì sau chiến tranh, niên hiệu là do nội các chính phủ quyết định. Khi Nhật hoàng lên ngôi, một số quan chức trong nội các sẽ đề cử niên hiệu để từ trong số đó sẽ chọn lấy một. Niên hiệu Bình Thành là niên hiệu đầu tiên được quyết định theo phương thức này.

Q: Công việc của Nhật hoàng hiện nay là gì?

Từ khi hiến pháp mới có hiệu lực năm 1947 thì vai trò của Nhật hoàng thay đổi gần như hoàn toàn so với trước chiến tranh. Quyền thống trị và thần quyền của Nhật hoàng đã mất đi, thay vào đó công việc của Nhật hoàng như ghi trong hiến pháp là Tiến hành các công việc của quốc gia dựa trên sự cho phép của nội các chính phủ. Cụ thể, nhiệm vụ của Nhật hoàng là: chỉ định thủ tướng chính phủ và chánh án toà án tối cao, thông báo việc khai hội hay giải tán quốc hội, công bố các văn bản luật mới … vân vân. Thêm vào đó công việc của Nhật hoàng bao gồm cả việc tham dự các ngày lễ của quốc dân, tiếp đón nguyên thủ quốc gia các nước, viếng thăm các nước … tất cả đều phải nằm trong khuôn khổ, không ảnh hưởng đến chính trị và với mục đích củng cố mối quan hệ hoà hảo giữa quốc dân với các quốc gia khác.

Q: Phụ nữ có thể trở thành Nhật hoàng hay không?

Theo các ghi chép còn sót lại thì trong lịch sử có khoảng 10 Nhật hoàng là phụ nữ. Nhật hoàng nữ cổ nhất là Suy cổ Thiên hoàng (592-628), Nhật hoàng nữ mới nhất là Thiên hoàng Gosakuramachi (Hậu Anh Đinh Thiên hoàng). Việc truyền ngôi là theo kiểu cha truyền con nối trong đó con trai sẽ nối nghiệp cha. Tuy nhiên trong trường hợp khi Nhật hoàng băng hà mà người nối nghiệp đó không đủ điều kiện để trở thành Thiên hoàng thì hoàng thái hậu, công chúa hoặc công nương sẽ lên nối ngôi. Nhật hoàng hiện nay có hai người con trai: Hoàng thái tử và hoàng tử Akishino-no-miya. Ngày 1 tháng 12 năm 2001, hoàng thái tử sinh con đầu lòng là con gái. Chuyện Nhật Bản sẽ có Thiên hoàng là phụ nữ có thể xảy ra nếu hoàng thái tử không sinh được con trai.

Q: Hiện tại, ai được nói là thuộc về hoàng tộc?

Như là một thành viên của hoàng tộc, chỉ những người con ruột của Thiên hoàng mới được gắn chữ Miya (cung) vào tên của mình. Như vậy những thành viên của hoàng tộc hiện nay là: Thiên hoàng, hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng thái tử, công nương, công chúa Aiko, hoàng tử Akishino-no-miya, vợ của hoàng tử Akishino-no-miya, 2 con của hoàng tử Akishino-no-miya, …. tổng cộng 19 người. Mặc dù thân thế, quyền lợi và nghĩa vụ của hoàng thất được một bộ luật tên là Hoàng thất điển phạm qui định nhưng hoàng thất cũng phải chấp hành pháp luật giống hệt quốc dân. Điều khác biệt duy nhất là hoàng thất thì không có hộ tịch. Những người trong hoàng tộc không cần họ khi gọi tên. Ví dụ hoàng thái tử thì chỉ gọi là Naruhito (Đức Nhân), công nương thì chỉ gọi là Masako (Nhã Tử). Khi được nhận tên Cung với chữ Cung gắn đằng sau thì tên đó sẽ có chức năng như là họ.

 

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 06:42 07/08/2005

 

Lịch sử nước Nhật

Q: Nước Yamatai có thật sự tồn tại hay không?
Q: Thời Kofun như thế nào?
Q: Thời Nara như thế nào?
Q: Thời Heian như thế nào?
Q: Thời Kamakura như thế nào?
Q: Thời Muromachi như thế nào?
Q: Thời Azuchi-Momoyama như thế nào?
Q: Thời Edo như thế nào?

Q: Nước Yamatai có thật sự tồn tại hay không?

Trong cuốn sách lịch sử Nguỵ chí Hoà nhân truyền của Trung Quốc có ghi rằng vào khoảng nửa sau thế kỷ thứ 2 nước Nhật ở trong tình trạng hỗn loạn. Khi đó có nữ vương nước Yamatai tên là Himiko (Ty di hô) đứng lên thống nhất đất nước. Việc nước Yamatai tồn tại là không phủ nhận được nhưng vị trí nước đó ở đâu thì cho đến nay vẫn còn chưa minh bạch và là chủ đề cho các cuộc tranh luận. Có hai thuyết cơ bản, một là nước Yamatai nằm ở địa phận Kyushu ngày nay, hai là nước Yamatai nằm tại vùng phụ cận tỉnh Nara hiện nay.

Q: Thời Kofun như thế nào?

“Ko” l à “Cổ”, “Fun” là “Phần” trong “mộ phần”. Kofun nghĩa là mộ cổ của tầng lớp hào tộc, ngôi mộ nào cũng có hình một ngọn núi nhỏ được vun cao bằng đất. Trên các ngôi mộ đó có đặt một tượng người hoặc ngựa bằng đất gọi là Haniwa để trang trí. Trong ngôi mộ có một hầm đá đựng di hài người quá cố cùng với vũ khí, gương, quần áo …
Kiểu xây mộ này rất thịnh hành trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 4 đến cuối thể kỷ thứ 7. Chính vì vậy người ta gọi thời kỳ này là thời Kofun. Từ thời này trở đi dần dần một nước Đại Hoà thống nhất được thành lập. Vào đầu thế kỷ thứ 7, thái tử Thánh Đức (574-622) đưa ra chính sách Quán vị thập nhị giai (tức là chế độ mười hai cấp bậc quan lại) và Hiến pháp thập thất điều nghĩa là hiến pháp 17 điều, tạo ra nền tảng lập pháp đầu tiên của quốc gia. Đây cũng là thời kỳ này có nhiều nghệ nhân, thợ thủ công mang kỹ thuật từ Trung Quốc, Triều Tiên đến truyền bá tại Nhật.

Q: Thời Nara như thế nào?

Nara là thời kỳ trải dài từ năm 710 đến năm 794 với kinh đô Bình Thành (Heijou kyou) đặt tại Nara. Nara là thời kỳ thi hành chính sách trung ương tập quyền và chế độ pháp trị. Phật giáo được nhà nước bảo hộ và phát triển rộng khắp. Tượng Phật bằng đồng lớn nhất thế giới đặt tại chùa Todai (Đông Đại tự) hiện nay được làm ra trong thời kỳ này. Thời đại này cũng là giai đoạn mở rộng giao lưu văn hoá rộng rãi với các nước khác mà trung tâm là nhà Đường ở Trung Quốc. Ngoài ra có thể thấy một ảnh hưởng lớn của văn hoá Triều Tiên, Ấn Độ và Ba Tư trong thời đại này.

Q: Thời Heian như thế nào?

Vào cuối thế kỷ thứ 8, kinh đô được dời đến Kyoto và kéo dài trên một ngàn năm trong đó thời kỳ Heian (Bình An) dài 400 năm cho đến thế kỷ thứ 12. Tiếp theo thời kỳ Nara, quý tộc dưới quyền của Thiên hoàng vẫn nắm quyền cai trị đất nước. Đồng thời hào tộc ở khắp nơi cũng dần dần mở rộng việc tư hữu đất đai rồi trang bị vũ khí, đoàn kết lại để bảo vệ mình khỏi chiến tranh với các khu vực láng giềng. Cuối cùng một gia tộc tên là Taira đã thu hết quyền lực chính trị vào trong tay, mở đầu cho một thời kỳ mới, thời kỳ của võ sĩ. Về mặt văn hoá, Nhật Bản đi từ việc chỉ mô phỏng và tiếp thu văn hoá Đường tới chỗ cải tiến và phát huy chúng cho hợp với phong thổ và cảm tính đặc thù của người Nhật. Tác phẩm nổi tiếng thế giới Nguyên thị vật ngữ (Chuyện kể Nguyên thị) của tác giả Murashiki Shikibu được sáng tác trong thời kỳ này.

Q: Thời Kamakura như thế nào?

Taira, gia tộc nắm quyền lực chính trị cho đến cuối thời kỳ Heian bị gia đình Minamoto diệt. Sau đó năm 1192, Minamoto Yoritomo trở thành Chinh di đại tướng quân và lập ra Mạc phủ ở Kamakura tỉnh Kanagawa ngày nay. Thời kỳ chính trị vũ gia bắt đầu. Mạc phủ là chính quyền quân sự mà trong đó tướng quân đứng đầu giới võ sĩ, đảm nhận chính sự. Thiên hoàng chỉ mang tính hình thức mà không có thực quyền. Tuy nhiên gia tộc Minamoto chỉ tồn tại được 3 đời. Sau Minamoto là gia tộc Hojo lên nắm quyền cho đến khi Thiên hoàng Go-Daigo lật đổ Mạc phủ, phục hồi nền chính trị Thiên hoàng vào năm 1333. Về mặt văn hoá, thời kỳ này sản sinh ra nhiều tác phẩm điêu khắc tả thực tượng Phật với vẻ võ sĩ, mạnh mẽ và cương nghị. 

Q: Thời Muromachi như thế nào?

Thời Muromachi được chia ra làm hai: thời Nam Bắc triều và thời Chiến quốc. Thời Nam Bắc triều là thời kỳ tranh giành quyền lực giữa Thiên hoàng Go-Gaido và tướng quân Ashikaga Takauji. Thiên hoàng Go-Gaido là người lật đổ chính quyền Mạc phủ Kamakura và đưa chính quyền trở lại triều đình ở Kyoto năm 1333. Ashikaga Takauji là tướng quân lập ra Mạc phủ ở phía bắc Kyoto năm 1336 dưới triều Thiên hoàng Quang Minh. Thời Chiến quốc kéo dài khoảng 100 năm tính từ sau loạn Ứng Nhân năm 1467 đến khi Oda Nobunaga lật đổ Mạc phủ năm 1573. Thời Muromachi nhìn chung là thời kỳ của phát triển nông nghiệp, thương nghiệp và đô thị hoá. Về mặt văn hoá thời kỳ này sản sinh ra các loại hình nghệ thuật mới như tranh sơn dầu, kịch No, Kyogen (Cuồng ngôn), trà đạo, nghệ thuật cắm hoa.
Q: Thời Azuchi-Momoyama như thế nào?

Trong thời Chiến quốc Oda Nobunaga là người đánh bại tất cả các đối thủ nhưng chính Oda Nobunaga lại bị gia thần là Toyotomi Hideyoshi giết chết ngay trước khi đất nước sắp thống nhất. Người nối sự nghiệp sau đó không ai khác chính là Toyotomi Hideyoshi. Thời Azuchi-Momoyama là thời mà Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi nắm giữ quyền lực. Chỉ một khoảng thời gian ngắn ngủi là 30 năm tính từ năm 1568 (Có thuyết cho rằng năm 1573) nhưng thời kỳ này là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển nước Nhật phong kiến. Đáng chú ý nhất là chính sách kiểm địa và chính sách thu hồi vũ khí. Kiểm địa là chính sách kiểm tra diện tích và mức thu hoạch từ đất đai sau đó quyết định mức thuế và người chịu trách nhiệm nộp thuế. Chính sách thu hồi vũ khí là chính sách thu hồi tất cả các loại vũ khí trong dân chúng, cố định hoá thân phận của nông dân và đặt quyền thống trị vào tay tầng lớp võ sĩ.
Văn hoá thời kỳ này được gọi là Văn hoá Azuchi-Momoyama với sự yếu đi trong ảnh hưởng của Phật giáo thêm vào đó là vẻ tự do, tráng lệ. Phong cách kiến trúc Thành Bang với các Thiên Thủ Các cao và nhọn hay loại tranh trang trí tường lấp lánh vàng là những điển hình.
Q: Thời Edo như thế nào?

Thời Edo (Giang Tô) kéo dài 260 năm tính từ khi Tokugawa Ieyasu lật đổ gia đình Toyotomi và mở ra Mạc phủ ở Edo (Tokyo) năm 1603 và thống trị toàn quốc. Những người được tướng quân, người cao cấp nhất trong Mạc phủ giao cho trên 1 vạn thạch đất đai thì được gọi là đại danh, lãnh địa và cơ quan quản lý như thế được gọi là phiên. Mạc phủ thông qua các phiên để quản lý đất đai và dân chúng trên toàn quốc. Chế độ này gọi là chế độ Mạc phiên. Thời kỳ này thực thi mạnh chế độ phân chia giai cấp: sĩ nông công thương trong đó tầng lớp võ sĩ là cao nhất. Về đối ngoại: thực thi chính sách bế quan toả cảng, cấm đạo Thiên Chúa. Về mặt văn hoá, cuối thể kỷ 17, đầu thế kỷ 18 là giai đoạn khai hoa của kỷ nguyên văn hoá Nguyên lộc. Múa rối và ca vũ kỹ được lan rộng, Matsuo Basho làm bài cú (thơ ngắn), nghệ thuật vẽ tranh ukiyo-e mà sau này được phát huy bởi Utamaro, Hokusai, Hioshige.

 

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 06:42 07/08/2005

 

Minh Trị tới hiện tại

Q: Thời Minh Trị xuất hiện như thế nào?
Q: Thời Minh Trị như thế nào?
Q: Thời Đại Chính như thế nào?
Q: Thời Chiêu Hoà như thế nào?

Q: Thời Minh Trị xuất hiện như thế nào?

Năm 1853, chiến thuyền của Đô đốc hải quân Perry (Mỹ) đến đậu tại vịnh Uraga, Tokyo và đòi Nhật Bản phải khai quốc. Nội tình nước Nhật lúc này rất hỗn loạn khi phải bàn cãi chuyện Khai quốc hay Tôn hoàng nhướng di (theo vua bài ngoại bang). Tát Ma phiên (nay thuộc tỉnh Kagoshima) và Trường Châu phiên là hai phiên ban đầu kiên quyết theo đường lối Tôn hoàng nhướng di nhưng cuối cùng đã chịu lật đổ Mạc phủ khi biết sức mạnh của Âu Mỹ.
Một mặt dân chúng phải khốn khổ vì vật giá tăng, các cửa hiệu giàu có bị đốt phá … tất cả báo hiệu rằng chế độ Mạc phiên không thể tồn tại lâu hơn được. Cuối cùng, năm 1867 tướng quân Mạc phủ đời thứ 15 là Toyotomi Yoshinobu đã phải trao quyền lại cho triều đình. Từ đây chính quyền mới được thành lập với trung tâm quyền lực là Thiên hoàng thay cho chế độ phong kiến đã tồn tại quá dài. Và thời đại Minh Trị ra đời.
Q: Thời Minh Trị như thế nào?

Chính quyền được chuyển giao từ gia tộc Togugawa sang tay triều đình, nền chính trị dựa trên Mạc phủ và phiên chuyển tới quốc gia thống nhất. Kinh tế được chuyển sang chế độ Tư bản chủ nghĩa và nước Nhật Bản thời cận đại đã ra đời. Năm 1889, Hiến pháp Minh Trị (Đại Nhật Bản Đế Quốc Hiến Pháp) được thực thi và hình thái chính trị của đất nước được hình thành. Trong hiến pháp có điều: Thiên hoàng là thần thánh, tất cả không được trái với Thiên hoàng. Thiên hoàng được thần thánh hoá, chẳng bao lâu Nhật Bản thống nhất thành một quốc gia bằng chủ nghĩa quốc gia đó. Cũng có một số phong trào tự do dân quyền chủ trương đòi tự do và quyền lợi cho nhân dân nhưng kết cục thì dựa trên danh nghĩa quốc gia chủ nghĩa, quyền lợi của quốc gia được ưu tiên hơn, Nhật Bản mang quân đi tấn công Triều Tiên, Trung Quốc. Va chạm với các nước phản đối 2 cuộc chiến tranh đó cũng tăng lên, kết quả là chỉ riêng thời Minh Trị, Nhật đã gây chiến với nhà Thanh (1894-1895), Nga (1904-1905). Năm 1910 Nhật sáp nhập cả Hàn Quốc.

Q: Thời Đại Chính như thế nào?

Thời kỳ này chỉ kéo dài có vẻn vẹn 14 năm (1912-1926) nhưng đó là thời kỳ của các phong trào cải cách theo đường lối dân chủ chủ nghĩa chống lại sự khuyếch trương quyền lực quốc gia bởi quan lại trong thời Minh Trị.
Các phong trào yêu cầu một thể chế chính trị đúng như ghi trong hiến pháp, một chế độ bầu cử thông thường trong đó ai cũng được bầu cử. Cuộc bạo động liên quan đến gạo, cuộc luận chiến liên quan đến lao động, các phong trào Dân bản chủ nghĩa, Tự do chủ nghĩa, Xã hội chủ nghĩa…Tuy nhiên ngay cả phong trào Đại Chính dân chủ này cuối cùng cũng không thể chống lại được sự chuyển mình mạnh mẽ lên chủ nghĩa quân quốc của Nhật Bản.
Q: Thời Chiêu Hoà như thế nào?

Rất khó có thể thuyết minh một cách đơn giản về thời kỳ này. Nguyên nhân là do Nhật Bản trước và sau thế chiến thứ 2 khác nhau quá nhiều. Sau chiến tranh với Nga, Nhật tiếp tục muốn củng cố lợi ích bằng việc đưa đội quân Quan Đông sang đóng tại Mãn Châu (TrungQuốc). Năm 1932, đưa ra bản Mãn Châu Kiến quốc Tuyên ngôn đòi lập ra nước Mãn Châu. Liên minh quốc tế gửi phái đoàn điều tra đến Mãn Châu, Nhật Bản rút khỏi liên minh quốc tế. Hơn thế nữa năm 1937, nhân sự kiện cầu Marco Polo, Nhật Bản bắt đầu chiến tranh với Trung Quốc sau đó lan rộng cả ra các nước Đông Nam Á. Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tuyên chiến toàn diện với Mỹ và các nước khác bằng trận Trân Châu Cảng. Tháng 8 năm 1945, Nhật Bản bại trận và đầu hàng vô điều kiện. Sau năm 1945, dưới sự giám sát của quân chiếm đóng, Nhật Bản chọn con đường xây dựng một quốc gia dân chủ chủ nghĩa. Và cuối cùng, trải qua muôn vàn khó khăn và mâu thuẫn, với sự cần cù và trình độ kỹ thuật xuất sắc có được bằng trí thông minh của mình, người Nhật đã đưa đất nước họ trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới.

 

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 06:42 07/08/2005

 

Hiến pháp Nhật

Q: Hiến pháp Nhật Bản hiện nay được soạn thảo khi nào và được soạn thảo như thế nào?
Q: Nội dung của điều 9 chương 2 hiến pháp Nhật Bản là gì mà luôn gây ra tranh cãi như thế?
Q: Làm thế nào để có thể sửa đổi được hiến pháp?

Q: Hiến pháp Nhật Bản hiện nay được soạn thảo khi nào và được soạn thảo như thế nào?

Sau tháng 8 năm 1945 Nhật Bản phải chịu sự kiểm soát của bộ tổng tư lệnh Liên hợp quốc và được khuyến cáo sửa đổi hiến pháp. Tháng 1 năm 1946 chính phủ Nhật Bản đưa ra bản dự thảo hiến pháp sửa đổi. Nội dung của bản dự thảo này chủ yếu dựa trên bản Cựu Đại Nhật Bản Đế Quốc Hiến Pháp, tuy có cải tiến làm cho quyền lợi của người dân tăng lên nhưng chủ yếu vẫn đặt chủ quyền quốc gia vào tay Thiên hoàng. Tướng tổng tư lệnh MacAthur không chấp nhận bản dự thảo này và đề ra bản dự thảo khác vào ngày 13 tháng 2 cùng năm, gọi là bản dự thảo MacAthur rồi yêu cầu chính phủ Nhật Bản xem xét. Chính phủ Nhật Bản đã dựa trên bản dự thảo MacAthur để soạn ra Tân hiến pháp vào ngày 6 tháng 3. Ngày 3 tháng 5 năm 1947, Nhật Bản chính thức thực thi bản hiến pháp mới. Một số người thuộc tầng lớp bảo thủ phản đối rằng hiến pháp hiện nay là do người ngoài soạn ra chứ không phải do tự thân nước Nhật soạn ra.

Q: Nội dung của điều 9 chương 2 hiến pháp Nhật Bản là gì mà luôn gây ra tranh cãi như thế?

Nội dung toàn văn chương 2 điều 9 như sau:
Nhân dân Nhật Bản thành thật mong muốn một nền hoà bình quốc tế dựa trên chính nghĩa và trật tự, cam kết vĩnh viễn không phát động chiến tranh như là một phương tiện giải quyết xung đột quốc tế bao gồm chiến tranh xâm phạm chủ quyền dân tộc và các hành vi vũ lực hoặc các hành vi đe doạ bằng vũ lực. Để thực hiện mục đích ghi ở trên, lục, hải và không quân cũng như các tiềm lực chiến tranh khác sẽ không được duy trì. Quyền tham chiến của đất nước sẽ không được công nhận.
Nếu hiểu trực tiếp thì điều này có ý nghĩa rằng Nhật Bản không được phép duy trì bất cứ một thứ quân bị nào. Tuy nhiên các thế lực bảo thủ của Nhật Bản lại chủ trương rằng quân bị ghi ở trên là không bao gồm tự vệ đoàn. Năm 1954, tự vệ đoàn ra đời.
Q: Làm thế nào để có thể sửa đổi được hiến pháp?

Để sửa đổi hiến pháp, các điều kiện sau đây phải được thoả mãn:
1. Trên hai phần ba số thành viên của thượng viện cũng như hạ viện thông qua.
2. Sau đó quốc dân sẽ bỏ phiếu, số phiếu thuận phải là quá bán.
Tuy nhiên từ khi hiến pháp có hiệu lực (năm 1947) đến nay chưa lần nào tổ chức bỏ phiếu toàn quốc để sửa đổi hiến pháp.

 

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 06:42 07/08/2005

 

Bộ máy chính trị

Q: Quốc hội Nhật Bản được cấu tạo như thế nào?
Q: Có bao nhiêu nghị viên và họ được bầu cử như thế nào?
Q: Bộ máy chính phủ như thế nào?
Q: Thủ tướng được bầu như thế nào?
Q: Có những chính đảng nào tại Nhật Bản?
Q: Có bao nhiêu bộ trưởng?
Q: Tại sao người ta khen các quan chức của Nhật ưu tú?
Q: Tokyo trở thành thủ đô của Nhật từ bao giờ và như thế nào?
Q: Chính quyền địa phương của Nhật hoạt động như thế nào?
Q: To, do, fu, ken khác nhau như thế nào?

Q: Quốc hội Nhật Bản được cấu tạo như thế nào?

Quốc hội của Nhật Bản được gọi là Diet (tương đương Parliament của Anh). Diet gồm hai viện là hạ nghị viện và thượng nghị viện. Cả hai viện đều được cấu thành bởi các đại biểu đại diện cho quốc dân. Hạ nghị viện đại diện cho ý kiến và nguyện vọng của quốc dân còn thượng nghị viện giám sát quyền lực và sự phán quyết của hạ nghị viện.
Hạ nghị viện có thẩm quyền cao hơn thượng nghị viện.

Q: Có bao nhiêu đại biểu và họ được bầu cử như thế nào?

Số thành viên quy định của hạ nghị viện là 500, của thượng nghị viện là 252. Con số 500 của hạ nghị viện là kết quả của luật bầu cử sửa đổi năm 1994. Chế độ bầu cử hạ nghị viện dựa trên hai hình thức bỏ phiếu. 300 người được bầu bằng cách sau: Chia toàn quốc thành 300 khu vực bẩu cử nhỏ gọi là khu vực tiểu tuyển cử, mỗi khu vực chọn một người. 200 người còn lại được bầu theo chế độ tỷ lệ tương ứng: Chia toàn quốc thành 11 khu vực bầu cử gọi là khu vực tuyển cử tỷ lệ. Cử tri không bỏ phiếu cho từng ứng cử viên mà bỏ phiếu cho các chính đảng. 200 đại biểu sẽ được phân bổ dựa trên tỷ lệ phiếu mà đảng của mình thu được trên toàn quốc. Nghĩa là cử tri sẽ phải bầu 1 đại biểu từ khu vực tiểu tuyển cử và 1 đảng từ khu vực tuyển cử tỷ lệ. Về thượng nghị viện thì 100 người được bầu theo chế độ tỷ lệ tương ứng và 152 người sẽ được bầu từ các khu vực tuyển cử với đơn vị là cấp tỉnh-thành phố.

Q: Bộ máy chính phủ như thế nào?

Thể chế chính trị của Nhật là tam quyền phân lập, bao gồm lập pháp, tư pháp và hành pháp. Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền hành pháp thuộc về Nội các chính phủ và quyền tư pháp thuộc về toà án. Sự thực hiện hành pháp được dựa trên chế độ Quốc hội nội các trong đó nội các được tổ chức bởi Quốc hội. Thủ tướng chính phủ (Nội các tổng lý đại thần) được tuyển nhiệm bởi Quốc hội còn các bộ trưởng (đại thần) được tuyển nhiệm bởi thủ tướng. Tuy nhiên, khác với Mỹ và một số quốc gia dân chủ khác, thủ tướng của Nhật Bản đa số được bầu ra từ trong đoàn đại biểu Quốc hội. Chính vì vậy mà ranh giới giữa lập pháp và hành pháp thường không rõ ràng.

Q: Thủ tướng được bầu như thế nào?

Mặc dù thủ tướng được quyết định bởi Quốc hội nhưng không phải ai cũng có thể trở thành ứng cử viên thủ tướng.
Chính trị Nhật Bản tồn tại dựa vào các đảng, do vậy điều kiện để ứng cử thủ tướng thứ nhất phải là Đại biểu Quốc hội, thứ hai: phải là dân sự. (Thực ra thì toàn dân Nhật Bản là dân sự vì Nhật Bản không có quân đội.) Các đảng phái chính trị, độc lập hoặc liên đới với nhau đề cử người lãnh đạo của đảng mình thành thủ tướng với mục đích củng cố quyền lực của đảng. Sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái nhiều khi rất gay gắt tới mức họ đặt quyền lợi của cá nhân lên trên quyền lợi của quốc dân. Nghĩa là luôn tồn tại một nguy cơ nền chính trị Nhật Bản có thể chuyển thành một nền chính trị bị chi phối bằng tiền. Có lẽ chính vì cách lựa chọn thủ tướng này mà nhiều người dân Nhật cảm thấy chính trị thật xa vời với họ.

Q: Có những chính đảng nào tại Nhật Bản?

Đảng chính trị đầu tiên của Nhật Bản, Hiệp hội Quần chúng yêu nước, được thành lập vào năm 1874 và lập tức trình cho Chính phủ một đề nghị đòi lập một cơ quan lập pháp đại nghị. Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của đất nước được tổ chức 16 năm sau đó, vào ngày 1 tháng 7 năm 1890. Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội được triệu tập vào ngày 19 tháng 11 cùng năm. Quốc hội Nhật Bản là cơ quan lập pháp quốc gia đầu tiên được lập ra ở châu Á. Từ đầu thập kỷ 90, chính giới Nhật Bản có nhiều xáo trộn. Đó là sự chia cắt đảng Dân chủ Tự do, sự rút lui của đảng Xã hội, sự cải biến của đảng Công Minh vân vân.
Hiện tại (tháng 5 năm 2002) có những đảng sau đây có ghế trong Quốc hội:
1. Đảng Dân chủ Tự do
2. Đảng Dân chủ
3. Đảng Công Minh
4. Đảng Cộng sản
5. Đảng Dân chủ Xã hội
6. Đảng Tự do
7. Đảng Bảo thủ
8. Các đảng khác

Q: Có bao nhiêu bộ trưởng?

Các bộ trưởng (đại thần) được thủ tướng (Nội các tổng lý đại thần) bổ nhiệm nhưng phải dựa trên các qui định sau đây:
1. Số bộ trưởng phải dưới 20 không kể thủ tướng.
2. Bộ trưởng phải là dân sự
3. Trên một phần hai số bộ trưởng phải là đại biểu Quốc hội
Cho tới nay thì số bộ trưởng luôn là con số tối đa 20 người và hầu hết đều là đại biểu Quốc hội. Số người không phải là đại biểu Quốc hội mà trở thành bộ trưởng chỉ là 1 hoặc 2 cho một kỳ tuyển cử. Đại biểu Quốc hội nào cũng muốn trở thành bộ trưởng đến nỗi sinh ra từ bệnh bộ trưởng. Ngoài thủ tướng ra, hiện có các bộ trưởng sau đây: bộ trưởng Tổng vụ, bộ trưởng Tư pháp, bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Tài chính, bộ trưởng Giáo dục-Văn hoá-Khoa học, bộ trưởng Y tế-Phúc lợi, bộ trưởng Nông – Lâm – Ngư nghiệp, bộ trưởng Kinh tế – Sản nghiệp, bộ trưởng Quốc thổ – Giao thông, bộ trưởng Môi trường, trưởng ban tổ chức chính phủ, chủ tịch uỷ ban công an quốc gia, tổng tư lệnh cục Phòng vệ, cục Khoa học – Kĩ thuật, bộ trưởng Ngân hàng, cục Kinh tế – Tài chính, cục Cải cách Hành chính.

Q: Tại sao người ta khen các quan chức của Nhật ưu tú?

Các bộ trưởng thường thay đổi mỗi khi thủ tướng thay đổi. Ngược lại quan chức ở cấp thấp hơn thì thường chỉ làm ở một bộ hay ngành cho đến hết đời. Chính vì vậy họ trở thành chuyên gia trong lĩnh vực mà họ quản lý. Vấn đề là ở chỗ có nhiều người quá chăm chú vào việc của mình đến mức họ bị mắc bệnh nghề nghiệp. Kết quả là chế độ hành chính chia theo chiều dọc được hình thành và mối quan hệ mật thiết giữa các bộ, ngành đang mất dần. Với chính sách hành chính kiểu này, thay bằng việc chỉ cần một cơ quan quyết định là việc phải cần đến sự cho phép của nhiều bộ, ngành khác. Hiện nay Nhật Bản đang dốc sức cải cách hành chính để có được một cơ cấu hành chính hiệu quả hơn, mềm mỏng hơn.

Q: Tokyo trở thành thủ đô của Nhật từ bao giờ và như thế nào?

Năm 1867 là năm chuyển giao quyền lực từ tay chế độ phong kiến Mạc phủ vào tay Nhật hoàng. Năm 1868 chính quyền mới được thành lập với sự lên ngôi của Nhật hoàng Minh Trị mở đầu cho thời kỳ Minh Trị Duy Tân. Cùng năm thủ đô Edo được đổi tên thành Tokyo (Đông Kinh) có nghĩa là kinh đô ở phía đông (Kinh đô cũ ở Kyoto).

Q: Chính quyền địa phương của Nhật hoạt động như thế nào?

Chính quyền địa phương hoạt động theo hiến pháp và được hiến pháp bảo vệ. Chủ tịch tỉnh-thành phố, chủ tịch quận-huyện, chủ tịch xã-phường, đại biểu Quốc hội, … tất cả đều được bầu thông qua tuyển cử. Tuy nhiên các đoàn thể địa phương phải phụ thuộc rất nhiều vào nhà nước vì công việc chính của họ là do nhà nước uỷ thác. Về mặt tài chính thì nhà nước cũng phải hỗ trợ nhiều vì chỉ riêng tiền thuế của địa phương thì không thể nào chi trả nổi các khoản chi cho công việc chung.

Q: To, do, fu, ken khác nhau như thế nào?

To là Đô, chỉ thủ đô Tokyo. Do là Đạo chỉ Hokkaido. Fu là Phủ chỉ Osaka và Kyoto. Ken âm Hán là Huyện nhưng nghĩa lại là Tỉnh, chỉ 43 tỉnh-thành phố còn lại. Như vậy Nhật Bản có cả thảy 47 tỉnh-thành phố trực thuộc trung ương bao gồm 1 đô, 1 đạo, 2 phủ và 43 tỉnh-thành khác.

 

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 06:42 07/08/2005

 

Kinh tế,sản nghiệp,mậu dịch

Q: Lí do gì làm cho kinh tế Nhật mạnh đến thế?
Q: Sự tăng trưởng kinh tế của Nhật có bị dừng lại vì khủng hoảng hay không?
Q: Tại sao thặng dư thương mại của Nhật đối với Mỹ không giảm?
Q: Sau thế chiến thứ 2, nông nghiệp Nhật Bản thay đổi như thế nào?
Q: Hiện tại, vấn đề lớn nhất của ngành ngư nghiệp Nhật Bản là gì?
Q: Viễn cảnh của Nhật như là một đất nước công nghiệp ở thế kỉ 21 là gì?
Q: Có phải giá cả tại Nhật cao hơn giá cả tại các nước khác không?
Q: Các công đoàn của Nhật được tổ chức như thế nào?
Q: Hiện nay Nhật Bản đang phải đối diện với những vấn đề ô nhiễm nào?

Q: Lí do gì làm cho kinh tế Nhật mạnh đến thế?

Người ta nói rằng kinh tế Nhật đã tăng trưởng rất mạnh là nhờ chiến tranh lạnh. Trong khi rất nhiều quốc gia như Mỹ và Liên Xô dốc sức vào chạy đua vũ trang thì Nhật Bản, với bản hiến pháp hoà bình, tập trung vào phát triển kinh tế. Một chỉ số biểu hiện sức mạnh của nền mậu dịch một quốc gia được gọi là độ độc lập về ngoại thương. Đó là tỷ lệ giữa tổng lượng mậu dịch (xuất khẩu và nhập khẩu) trên tổng thu nhập quốc gia. Độ độc lập ngoại thương của Nhật Bản là 10% năm 1955 và tăng lên gấp đôi, 20% năm 1970. Tỷ lệ đó luôn được duy trì ở mức 22-23% từ năm 1985 đến nay. Nhật Bản là quốc gia duy nhất trên thế giới đạt được tốc độ tăng trưởng như trên. Đó là nhờ vào khả năng sản xuất công nghiệp và xuất nhập khẩu cực mạnh. Tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản những năm giữa thập kỷ 80 đã làm thế giới kinh ngạc. Về GNP (tổng sản lượng quốc gia), năm 1960 Nhật chiếm 2,8% tổng sản lượng của thế giới nhưng chỉ 20 năm sau, năm 1980, GNP của Nhật Bản chiếm 10,1% của thế giới. Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng đều đặn cho đến cuối những năm 80. Tuy nhiên sau đó trong 3 năm liền Nhật Bản bị ảnh hưởng nặng nề bởi một nền kinh tế bong bóng. Gọi là kinh tế bong bóng bởi giá địa ốc, giá chứng khoán, … tăng ở mức cực nhanh rồi hạ xuống như là những chiếc bong bóng bị xẹp xuống sau khi được bơm đầy hơi. Năm 1991, giá chứng khoán và địa ốc giảm nhanh chóng, nền kinh tế bong bóng kết thúc, Nhật Bản bước vào thời kỳ khó khăn.

Q: Sự tăng trưởng kinh tế của Nhật có bị dừng lại vì khủng hoảng hay không?

Nguyên nhân to lớn làm cho kinh tế Nhật bị không phát triển được có lẽ là do đồng yên tăng giá. Năm 1993, một đô la Mỹ tương đương 120 yên nhưng năm 1995, một đô la Mỹ chỉ bằng 80 yên. Thêm vào đó là việc các nước khác đòi Nhật phải mở rộng nhập khẩu. Nhiều người lo lắng rằng Nhật Bản đang mất dần sức mạnh cạnh tranh quốc tế của mình.

Q: Tại sao thặng dư thương mại của Nhật đối với Mỹ không giảm?

Thặng dư thương mại của Nhật trong nhiều năm đã bị Mỹ chỉ trích tới mức đã có chiến tranh thương mại giữa Nhật và Mỹ thời tổng thống Bill Clinton. Thặng dư thương mại của Nhật không giảm đó là nhờ sức mạnh của hàng dệt, ti vi màu, máy móc công nghiệp những năm 70 và xe hơi, linh kiện bán dẫn, đầu máy video những năm 80. Những năm 90 còn có những chỉ trích chính bản thân cấu tạo nền kinh tế của Nhật, cho rằng đó là nguyên nhân chính gây ra thặng dư thương mại.

Q: Sau thế chiến thứ 2, nông nghiệp Nhật Bản thay đổi như thế nào?

Năm 1960, có 26.8% tổng dân số thuộc khu vực sản xuất nông nghiệp nhưng đến năm 1992, con số đó giảm xuống chỉ còn 5.5%. Diện tích canh tác cũng giảm xuống chỉ còn 20%. Tuy nhiên nhờ vào cải tiến kỹ thuật và giống, sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu, cơ giới hoá sản xuất mà sản lượng nông nghiệp đã tăng lên rất cao. Mặt khác, để khuyến khích phát triển nông nghiệp, chính phủ Nhật lại ban hành các chính sách quản lý nông phẩm; ổn định giá thịt bò, đường, vân vân. Điều đó làm cho Nhật Bản mất hẵn sức cạnh tranh nông nghiệp trên thị trường thế giới. Thực tế thì tỷ lệ tự cung về các mặt hàng nông sản của Nhật đang giảm mạnh vì sức sản xuất của chúng vừa thấp vừa đắt hơn nhiều so với hàng nhập khẩu. Thậm chí gạo là mặt hàng Nhật có thể tự cung tự cấp được 100% nhưng đến năm 1993, tỷ lệ đó chỉ còn 75%. Hoa quả cũng giảm từ 100% năm 1960 xuống còn 54%, tiểu mạnh 10%, đậu tương 2%. Nhật Bản đã chuyển sang tình trạng không thể tự cung tự cấp được lương thực thực phẩm.

Q: Hiện tại, vấn đề lớn nhất của ngành ngư nghiệp Nhật Bản là gì?

Nhật Bản là quốc gia tiêu thụ hải sản lớn thứ 2 thế giới sau Ai Len. Tuy nhiên lượng đánh bắt hải sản của họ lại đang bị giảm kể từ năm 1999. Từ xưa Nhật Bản vẫn tự hào là nước có ngành ngư nghiệp mạnh nhất thế giới nhưng năm 1999 họ đã phải nhường vị trí này cho Trung Quốc. Sản lượng hải sản năm 1992 của Nhật là 92 triệu 700 nghìn tấn, chiếm 8.9% sản lượng thế giới. Con số này chỉ đủ đáp ứng 62.6% nhu cầu trong nước, 37.4% còn lại phải nhập khẩu. Hiện nay, với diện tích đánh bắt chỉ có 200 hải lý, ngành ngư nghiệp Nhật Bản vốn đã rất quen thuộc với việc đánh bắt xa bờ đang ở trong tình trạng khó khăn. Con đường duy nhất để tồn tại là nuôi trồng ngư nghiệp.

Q: Viễn cảnh của Nhật như là một đất nước công nghiệp ở thế kỉ 21 là gì?

Công nghiệp Nhật Bản sau chiến tranh được phân làm hai loại: Công nghiệp vật liệu cơ bản như sắt thép, tinh luyện nhôm, hoá dầu, xi măng, dệt và công nghiệp hoá học nặng như kim loại, cơ khí, hoá học. Với sự ứng dụng các kỹ nghệ tiên tiến nhất của Mỹ và phương thức tự động hoá, ngành công nghiệp Nhật Bản đã phát triển với tốc độ rất cao chỉ trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên qua 2 lần khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và 1979 với sự tăng vọt của giá nhiên liệu và nguyên liệu, ngành công nghiệp Nhật Bản đã bị đình đốn. Tiếp đó Nhật Bản đã chú trọng phát triển ngành công nghiệp gia công chính xác. Kỹ thuật điện tử của Nhật Bản đã đạt đến trình độ rất cao. Các sản phẩm này của Nhật Bản đã làm bá chủ trên thị trường thế giới. Tuy nhiên bước vào thập kỷ 90, đồng yên tăng vọt và ngành công nghiệp Nhật Bản vốn chủ yếu dựa vào xuất khẩu đã bị khựng lại. (Tiền tăng so với ngoại tệ thì ngành xuất khẩu bị thiệt, giảm so với ngoại tệ thì ngành nhập khẩu bị thiệt). Ngoài ra còn có những phản đối từ phía Âu-Mỹ cho rằng các sản phẩm của Nhật quá mạnh. Chính vì vậy việc cải tiến kỹ thuật nội địa dựa vào kỹ thuật của nước khác đã trở nên khó khăn. Từ năm 1994 đến năm 1999 có những dấu hiệu cho thấy kinh tế đang hồi phục. Người ta cho rằng nhiệm vụ của người Nhật ở thế kỷ 21 là Khởi phát các ngành công nghiệp mới dựa vào những nghiên cứu cơ bản của chỉ riêng Nhật Bản.

Q: Có phải giá cả tại Nhật cao hơn giá cả tại các nước khác không?

Giá cả tại Nhật Bản là cao nhất thế giới. Theo điều tra của sở kế hoạch kinh tế năm 1993 thì giá sinh hoạt tại Tokyo gấp 1,41 lần tại New York, 1,45 lần tại Paris và 1,36 lần tại Luân Đôn. Giá hambuger trung bình tại Tokyo (năm 1995) là 181 yên, tại New York là 110 yên, tại Luân Đôn là 95 yên. Tuy nhiên từ giữa những năm 90, với sự tăng giá của đồng yên giá hàng nhập khẩu giảm xuống đáng kể, kinh tế đình trệ cũng làm cho giá cả hàng hoá giảm xuống; thêm vào đó là chính sách phá giá bằng việc gia tăng nhập khẩu cũng làm cho giá cả giảm. Ba lý do chính đó làm cho chỉ số tiêu thụ hàng hoá giảm xuống dưới 1%. Giá quần áo, đồ gia dụng, thông tin liên lạc đã bắt đầu giảm xuống.
Q: Các công đoàn của Nhật được tổ chức như thế nào?

Phần lớn các công đoàn của Nhật là công đoàn công ty. Nói cách khác, nếu bạn làm việc cho một công ty thì bạn trở thành thành viên của công đoàn công ty đó. Trên các công đoàn đó có công đoàn mẹ được tổ chức do sự tập hợp các công ty cùng ngành. Các công đoàn mẹ đó tập hợp lại thành Hội liên hiệp tổng công đoàn Nhật Bản hiện nay. Khoảng 60% công đoàn tham gia vào hội liên hiệp này. Ngoài ra còn có công đoàn được tổ chức bởi của những người phe đảng Cộng sản và công đoàn được tổ chức bởi những người phe đảng Xã hội Dân chủ cũ. Hai công đoàn này chiếm khoảng 9%. Ngoài công đoàn ngành Kim loại (IMF-JC) ra, Nhật Bản không xây dựng các công đoàn của từng ngành. Công đoàn ngành Kim loại là thành viên tích cực của IMF (International Metalworkers Federation: Liên hiệp công đoàn ngành Kim loại quốc tế). Khoảng 20% công đoàn tham IMF-JC. Tuy nhiên tại thời điểm năm 1994, trong số 35 triệu lao động tại Nhật Bản, chỉ có 12 triệu được tổ chức vào công đoàn. Người lao động càng ngày càng không muốn tham gia vào công đoàn.

Q: Hiện nay Nhật Bản đang phải đối diện với những vấn đề ô nhiễm nào?

Nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm tại Nhật Bản là đất chật người đông, công trường và khu nhà ở nằm sát nhau. Người ta đã chứng minh được rằng nguyên nhân gây ra bệnh về đường hô hấp giống như hen suyễn phát sinh tại thị xã Yokkaichi tỉnh Mie là do khí thải từ nhà máy lọc dầu bên cạnh. Căn bệnh Mizumata nổi tiếng có nguyên nhân là do ô nhiễm thuỷ ngân, căn bệnh Itai-Itai có nguyên nhân là do ô nhiễm Cadomium … tất cả đểu do nước thải từ các công trường gây ra. Năm 1967 bộ luật cơ bản về chống ô nhiễm môi trường được ban hành và có hiệu lực. Dựa trên bộ luật này có thể xác định được ô nhiễm phát sinh từ đâu. Tuy nhiên người Nhật vẫn phải lo ngại về những ô nhiễm mà không thể xác định được nguyên nhân. Ví dụ các đám mây quang hoá được tạo ra khi các oxit Ni-tơ hoặc hydro-carbon phản ứng hoá học dưới ánh nắng mặt trời mạnh; Do Ni-tơ hoặc Phốt pho có trong nước thải công nghiệp cũng như nước thải gia đình mà sinh vật phù du phát sinh quá nhiều gây ra hiện tượng triều đỏ. (đỏ là màu của các sinh vật phù du). Triều đỏ đó cản trở sự phát triển của các loài hải sản như cá và sò; ô xít lưu huỳnh trong không khí gây ra mưa axit; tiếng ồn tại ven đường cao tốc vân vân. Có thể nói rằng trên nước Nhật nhỏ bé, người Nhật đang phải sống chung với các loại ô nhiễm.

 

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 06:42 07/08/2005

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: