Bản tính người Nhật

Nhật Bản đã thoát khỏi chế độ phong kiến để đưa đất nước phát triển thành một cường quốc về kinh tế. Tuy thế, về việc đối xử với phụ nữ thì có lẽ Nhật Bản còn lạc hậu so với các nước trong khu vực. Hiện nay phụ nữ vẫn chưa thoát khỏi truyền thống và dành được quyền bình đẳng tại Nhật. Trong nhiều năm trời nhà cầm quyền đã cố gắng để cải thiện đời sống người phụ nữ . Thế nhưng vẫn còn một cách nhìn kỳ quặc giữa và tiến bộ và truyền thống về thân phận người phụ nữ.

Trong suốt nhiều thế kỷ ngươì phụ nữ Nhật đã dấn thân để đấu tranh với sự thống tri của đàn ông. Có một số quốc gia trên thế giới ở đó người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong nghệ Thuật. Đối với Nhật bản cũng vậy. Những thu tịch cổ của Trung Hoa về Nhật Bản đã mô tả về một vị nữ hoàng có tên là Himiko, người đã thống nhất Nhật Bản và thành lập nên nhà nước gọi là Yamatai . Khi bà qua đời 100 nô lệ đã được táng theo bà.

Phụ nữ Nhật Bản chỉ được đối xử như người nắm các vai phụ. Việc người đàn ông Nhật mở cửa kiểu “ ga lăng” cho phụ nữ là rất hiếm. Chỗ của người phụ nữ ở trong nhà và ở đó họ có được một chút quyền hành. Người chồng Nhật đưa toàn bộ tiền lương cho vợ. Người vợ dùng tiền đó chi tiêu các khoản và đưa tiền tiêu hằng ngày cho chống.

Gần đây phụ nữ Nhật bản chạy theo lối sống phương tây. Tuy thế, sau khi lấy chồng họ lại phải về với đúng bổn phận của mình. Có lẽ đây là lý do nhiều phụ nữ muốn sống độc thân và nhiều người ly hôn sau khi cưới không lâu. 

Có thể nói yếu tố con người rất quan trọng trong việc phát triển của xã hội. Người Nhật, với các bản tính đặc biệt đã tạo giúp cho Nhật Bản có một nền văn hoá, xã hội đặc biệt.
1. Tính kỷ luật cao và hành động theo nhóm.Người Nhật là những con người của tính kỷ luật rất cao. Xã hội của họ phân chia theo từng nhóm cấu kết rất chặt chẽ với nhau. Sức lôi cuốn của nhóm và ước muốn được hoà mình vào nhóm là là phần căn bản trong tính cách người Nhật. Người Nhật luôn thuộc vào một nhón nào đó như gia đình, công ty.. vì nó mang lại cho họ cảm giác an toàn khi được thuộc về một nhón nào đó.

Đơn vị cơ bản của nhóm là gia đình giống như các xã hội khác. `Mặc dù vẫn duy trì mối quan hệ gia đình hoặc gia đình mở rộng trong suốt cuộc đời nhưng người Nhật còn đi xa hơn và chuyển ràng buộc này sang trường học công sở.

Sự gắn bó mạnh mẽ vào tập thể cũn có mặt trái của nó.Nó có thể khơi dậy tình cảm bài trừ người ngoài. Việc tuân thủ các tác phong và nghi thức giúp kiềm chế chủ nghiã cá nhân, và người lãnh đạo nhóm có thể trông đợi một sự phục tùng mù quáng và lơị dụng tập thể cho mục đích cá nhân. Nó cũng có thể khoá chặt cuộc đời một con người vào tập thể nào đấy.

2. Ý thức về bổn phận

Mọi người Nhật đều ý thức về bổn phận của họ. Bổn phận phải đền đáp lại những gíup đỡ đã nhận được, phải làm điều phải để bảo vệ tập thể. Với người Nhật thực hiện bổn phận của mình là điều tối quan trọng.

3. Giữ thể điện
Song song với việc ý thức về bổn phận là quan niệm về việc giữ thể diện. Không những giữ thể diện cho riêng mình mà còn phải giữ thể diện cho những người xung quanh. Ví dụ một người Nhật không những phải kính trên nhường dưới như Việt nam mình vẫn quan niệm mà còn phải biết hiểu tâm tư tình cảm của cả trên và dưới. Và khi hành động gì thì phải suy nghĩ đến những người này và chú ý không làm mất thể diện của họ và cả của chính bản thân mình.

Điều đó có nghĩa là cái tôi bên trong phải được kiềm chế hoặc che giấu. Chính vì thế mà người Nhật tránh đưa ra một câu trả lời rõ ràng, tránh cam kết hoàn toàn và né tránh sự đối đầu trực diện. Điều đó không có nghĩa là gian giảo hay giả dối. Đó chỉ là cần phải sử dụng mặt nạ để giữ cho các mối quan hệ cá nhân được êm thấm và không bị xáo trộn. Họ mô tả tính cách này bằng 2 chữ TATEMAE, tức là vẻ bộc lộ bên ngoài và HONNE là những suy nghĩ thực sự bên trong. Điều này đã gân ra cho người nước ngoài cảm nhận rằng người Nhật có tính hai mặt và không bao giờ nói thật.

4. Tính khéo léo và cẩn thận

Hẳn ai có cơ hội tiếp xúc và làm việc với người Nhật mới nhận ra bàn tay khéo léo của họ. Người Nhật rất xem trọng kiểu dáng và mẫu mã. Hầu hết các sản phẩm điện tử tinh vi đều có kiểu dáng rất phù hợp. Cộng với tính khéo léo là tính tỷ mỷ và cẩn thận tuyệt đối đã gíúp cho Nhật Bản nổi tiếng vời nhiều mặt hàng máy móc điện tử.

5. Tinh thần chịu khó và lạc quan

Có lẽ do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đã tạo cho người Nhật Bản tính lạc quan. Trong quá khứ nhiều trận động đất lớn xẩy ra nhưng ngay sau đó người Nhật lại lạc quan xây lại từ đống tro tàn đổ nát. Cũng có lẽ xuất phát từ tinh thần lạc quan này mà người Nhật cho dù già rồi vẫn cố gắng làm việc cống hiến cho gia đình xã hội. 

Một điều rõ ràng là trước khi những người cư dần đến đây thì thì đã có một nhóm người sinh sống tại Nhật Bản. Nhóm người này gọi là AiNu. Rõ ràng rằng người Ainu không thuộc hệ Mongoloid, họ có đặc điểm của người Cauase như da trắng, lông tóc rậm, mắt tròn và gò má phẳng. Gần đây thuyết cho rằng người Ainu thuộc nhóm Caucase đã bị bác bỏ khi người ta phát hiện ra rằng họ hoàn toàn không có gen của người Caucase.Sau nhiều thế kỷ người Nhật Bản đã dồn người Ainu lên phiá bắc trên Hokkaido, nơi họ vẫn sinh sống cho đến ngày nay. Tôn giáo của người Ainu là tôn giáo đa thần, với niềm tin vào mọi vật trong thế giới tự nhiên như muông thú, cỏ cây, muông thú đều có tinh thần hay linh hồn. Nhiều nghi lễ của Thần Đạo có nguồn gốc từ tôn giáo của người Ainu. Và nhiều địa danh của người Ainu đã tạo ra một phần trong từ vựng tiếng Nhật (núi Fuji chẳng hạn!).

 TS. Hoàng Xuân Long

Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Con đường phát triển của Nhật Bản đã từng gắn liền với việc học tập các thành tựu khoa học và công nghệ (KH & CN) của thế giới.

Mặc dù đã có thời bị coi là “kẻ bắt chước”, “kẻ cải tiến”, “người đi nhờ xe không mất tiền”…, nhưng rồi với những phát triển thàn kỳ, kinh nghiệm của Nhật Bản nhanh chóng được nêu lên thành bài học chung cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên, để áp dụng bài học này, trước hết, cầm tìm hiểu về những nhân tố cốt lõi tạo nên sự bắt chước thành công của Nhật Bản.

I. Bắt chước có tính sáng tạo

Tìm kiếm, săn lùng và nhập khẩu những công nghệ trên thế giới là hoạt động được coi trọng và diễn ra phổ biến ở Nhật Bản. Trong thời kỳ từ năm 1951 năm 1983, Nhật Bản từng tiến hành 41.972 số lần nhập công nghệ của nước ngoài với chi phí là 3.821 triệu USD – tính trung bình mỗi năm có 1312 số lần nhập công nghệ(1). Tuy ký kết rất nhiều hợp đồng nhập khẩu công nghệ của nước ngoài những người Nhật không thụ động cam chịu chấp nhận những gì sẵn có của thiên hạ. Trái hẳn với bắt chước mang tính sao chép ở đây thể hiện rõ ràng đường lối bắt chước mang tính sáng tạo.

Nhờ nỗ lực sáng tạo trong sử dụng công nghệ nhập ngoại mà từ một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, rất lạc hậu về mặt nghiên cứu triển khai và bị cô lập trong thời gian chiến tranh không được tiếp xúc vơí những công trình ở các nước khác trên thế giới. Nhật Bản đã tiến thẳng vào kỷ nguyên công nghệ cao (trở thành độc lập về mặt công nghệ vào năm 1980). Cũng nhờ thông qua nỗ lực sáng tạo, các công nghệ nhập ngoại được cải tiến và sau đó vượt trội so với trình độ của chính nước xuất nhập khẩu công nghệ. Có thể ra rất nhiều ví dụ về sự vượt trội này:

– Nhật Bản phát triển công nghệ máy công cụ điều khiển bằng số vào năm 1955 trên cơ sở nhập khẩu công nghệ từ Mỹ và từ cuối năm 1960 máy công cụ điều khiển bằng số giá thấp của Nhật đã được sản xuất hàng loạt và thâm nhập trở vào thị trường Mỹ.

– Công nghệ về bóng bán dẫnvốn được nhập từ Mỹ vào Nhật Bản. Sau quá trình biến đổi, cải tiến liên tục, ngành điện tử sử dụng bóng bán dẫn của Nhật Bản đã có sức mạnh cạnh tranh hàng đầu thế giới.

– Nhiều nhà máy xây dựng theo thiết kế của nước ngoài, nhưng sau một thời gian đã dạt được sản lượng cao hơn nhiều so với năng suất của chính người cung cấp công nghệ. Chẳng hạn, những lò cao của công nghệ sắt thép có công suất thiết kế 1.500 tấn/ngày; một nhà máy cao su tổng hợp với năng suất thiết kế 50.000 tấn/ngày đã hoạt động với năng suất 70.000 tấn/ ngày.

– Người Nhật học kỹ thuật “kiểm tra chất lượng” của người Mỹ từ năm 1950 và đến những năm 1970 họ đã đạt tới trình độ kiểm tra chất lượng rất cao và buộc người Mỹ phải quay lại tiếp thu một số tư tưởng của mình.

Người ta thấy rằng, ở Nhật Bản, bắt chước công nghệ và sáng tạo công nghệ kết hợp với nhau khá nhuần nhuyễn và tự nhiên. Định hướng của bắt chước và sáng tạo đều là phục vụ hoạt động cạnh tranh trên thị trường. Theo Junnosuke Kishida. Mục tiêu của khoa học và sản phẩm cạnh tranh của Nhật thống nhất ở 5 tính chất: 1 – an toàn, 2 – kinh tế, 3 – tin cậy, 4 – độ bền, 5 – thuận tiện(2). Để đáp ứng các tiêu chuẩn này, không cần phải đòi hỏi nhiều nghiên cứu cơ bản,mà lại cần những sáng tạo công nghệ mang tính thương mại. Các nhà nghiên cứu thường được chuyển từ phòng thí nghiệm sang dây chuyền sản xuất, ở đây họ áp dụng những kinh nghiệm vào hoạt động sản xuất và sau nữa trở lại phòng thí nghiệm để nghiên cứu những vấn đề của sản xuất. Cũng không ít trường hợp cán bộ nghiên cứu được chuyển từ phòng thí nghiệm sang bộ phận chào hàng, nơi anh ta có thể nắm bắt được những yêu cầu của người tiêu dùng và thông báo cho phòng thí nghiệm và dây chuyền sản xuất sự đánh giá của người tiêu dùng.

Ứng dụng công nghệ có hiệu quả đòi hỏi phải luôn gắn bó với điều kiện văn hoá và kinh tế của địa phương. Điều đó vừa liên quan tới việc lựa chọn công nghệ nhập và cũng liên quan tới biến đổi, sáng tạo công nghệ – có thể gọi là sáng tạo công nghệ mang tính thích hợp. Lịch sử khoa học Nhật cho thấy phổ biến trường hợp sinh viên được gửi đi để nghiên cứu những khía cạnh phổ thông khoa học phương Tây thông qua giáo dục đại học phương Tây, sau đó trở về nước và dành hầu như cả cuộc đời để cụ thể hoá những ý tưởng học được cho phù hợp với các điều kiện địa phương.

Những gì nói về sáng tạo dựa trên bắt chước thì cũng đúng với bắt chước có tính sáng tạo. Bằng thực tế, người Nhật buộc bất kỳ ai vốn coi thường sự bắt chước nói chung và đối lập tuyệt đối giữa bắt chước và sáng tạo… phải tự nhìn lại mình. Điển hình là nhận xét của giáo sư Harvey Brooks Trường Đại học Haryard ở Mỹ: “.. sẽ là sai lầm nếu kết luận là người Nhật chỉ đơn thuần là những người bắt chước,…, trái lại. lịch sử cho thấy sự bắt chước được nối tiếp bằng sự ứng dụng ngày càng có tính chất đổi mới, cuối cùng sẽ dẫn đến những đổi mới có tính chất đột phá, sáng tạo, hình thành một sự nối tiếp tự nhiên của công cuộc phát triển kinh tế. Một sự bắt chước có kết quả không hề biểu hiện thiếu tính sáng tạo như người ta thường nghĩ mà là bước đi đầu tiên để học hỏi sáng tạo(3). Đúng vậy, “bắt chước được nối tiếp bằng sự ứng dụng ngày càng có tính chất đổi mới” và “bắt chước có kết quả” chính là nghệ thuật bắt chước một cách sáng tạo mà người Nhật đã thể hiện.

Tấm gương của Nhật Bản chỉ ra có rất nhiều cơ hội để tiến hành sáng tạo bên cạnh bắt chước công nghệ. Đương nhiên, muốn khai thác những cơ hội này thì cần nhận thức sâu sắc về tính phong phú, đa dạng của KH&CN cũng như bản chất của KH&CN chỉ là phương tiện phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội của con người.

Khai thác những tác dụng mới của công nghệ sẵn có trên thế giới, Nhật Bản không hề ngần ngại thay đổi mục tiêu sử dụng công nghệ để phục vụ phát triển kinh tế. Hàng loạt công nghệ vốn dùng trong hoạt động quân sự của Mỹ đã được Nhật Bản mau chóng đổi hướng dùng trong kinh tế dân dụng như máy công cụ điều khiển bằng số, công nghệ vi điện tử, công nghệ hạt nhân, công nghệ vũ trụ.

Tỉnh táo nhận biết những khoảng trống mà thiên hạ bỏ qua hoặc coi nhẹ, người Nhật mạnh dạn phát triển các công nghệ tạo nên vũ khí cạnh tranh của riêng mình. tính sáng tạo đã không chỉ giới hạn ở một khâu nào, mà trái lại, được thể hiện cả nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, quảng cáo, tiếp thị và bán hàng (theo Masnori Moritani, nếu như trong hoạt động kinh doanh Mỹ cố gắng phù hợp với giai đoạn đầu của phát triển công nghệ thì giới kinh doanh Nhật lại cố gắng tận dụng tính ưu việt của công nghệ ở trong kế hoạch sản phẩm, thiết kế hệ thống và cả trong việc lắp ráp, thử nghiệm và kiểm tra chất lượng). Trong khi Mỹ chiếm giữ lợi thế về kỹ thuật tạo ra sản phẩm mới. Nhật Bản vấn tìm thấy những tiềm năng còn bỏ ngỏ và tập trung vào phát triển quy trình công nghệ mới(4). Nhờ trên cơ sở đó, chiến lược “Đi bằng bàn tay thứ hai”, với ý nghĩa đặt trọng tâm vào chất lượng và giá cả sản phẩm, đã gặt hái những thành tựu ngoạn mục.

II. Lực lượng KH&CN có khả năng bắt chước sáng tạo

Bắt chước sáng tạo công nghệ nhập ngoại là hoạt động có tính đặc thù và do đó, nó gắn liền với một lực lượng khoa học đặc thù.

Thực tế luôn tồn tại các lực lượng KH & CN khác nhau. Ở Nhật Bản, người ta có thể nhận ra khá rõ các loại hình KH & CN như KH & CN chính phủ, KH & CN doanh nghiệp và KH & CN thường dân (nổi bật là phân tích của tác giả Shigeru Nakayama trong “Science, technology and society in postwar Japan” – Nhà xuất bản Kegan paul International London and New York). Đồng thời, giữa chúng thường có quan điểm khác nhau trong nhìn nhận vấn đề và hướng hoạt động của mình theo quan điểm đó.

So với các lực lượng KH & CN khác, xét về lợi ích, năng lực và điều kiện hoạt động thì KH & CN doanh nghiệp tỏ ra thích hợp hơn cả với vai trò là chủ thể chính của hoạt động bắt chước sáng tạo công nghệ nhập ngoại (KH & CN doanh nghiệp ở đây tạm hiểu là KH & CN do doanh nghiệp tài trợ, được thực hiện trong khu doanh nghiệp và do các doanh nghiệp đánh giá…)

Rất tự nhiên, lợi ích tạo ra lợi nhuận của hoạt động kinh tế. Ở đây xin nêu ra một ví dụ có ý nghĩa minh hoạ xoay quanh cuộc tranh luận về xây dựng các lò phản ứng hạt nhân ở Nhật Bản vào những năm 1970. Trước cùng một vấn đề đặt ra, giới khoa học Nhật Bản đã bị chia cắt bởi các lợi ích khác nhau. Các nhà khoa học nguyên tử làm việc trong phòng thí nghiệm chính phủ, như phòng thí nghiệm năng lượng nguyên tử của Cơ quan khoa học và kỹ thuật Nhật, đã lập kế hoạch cho việc tự lập phát triển các lò phản ứng và đề nghị cung cấp kinh phí tương ứng. Mối quan tâm chính của các phòng thí nghiệm này là đẩy mạnh việc nghiên cứu và phát triển nguyên tử đắt giá mà không chú ý đến tính khả thi về kinh tế; và thành tựu chính của lực lượng khoa học chính phủ được đánh giá theo mức độ kinh phí xin được tối đa và quyền lực kèm theo trong khu vực chính phủ chứ khong phải theo lợi ích xã hội dài hạn của đề án. Các nhà khoa học hàn lâm, nhất là các nhà vật lý trong các trường đại học lớn ở Nhật Bản, ủng hộ trên nguyên tắc năng lượng nguyên tử, nhưng họ đòi hỏi cần phải có thêm nghiên cứu cơ bản, có thêm kinh phí cho khu vực hàn lâm trước khi đưa năng lượng nguyên tử ra kinh doanh. Các nhóm khoa học thường dân, như hội Entropry, là những người không được lợi lộc gì trong việc nghiên cứu và phát triển năng lượng nguyên tử. Trong khi đó, các nhà khoa học trong những công ty tư nhân như Công ty điện Tokyo có quan điểm khác với ba lực lượng trên. Các nhà khoa học doanh nghiệp chấp nhận bất kỳ hệ thống năng lượng nào miễn là thích hợp về kinh tế và do đó, họ thích mua công nghệ hơn là tự tạo ra công nghệ ở trong nội địa. Họ cũng thiên về cải tiến công nghệ nhập hơn là lao vào các nghiên cứu cơ bản … Đòi hỏi khoa học doanh nghiệp phải hết sức thực dụng một phần là bởi ở đây doanh nghiệp chính là người tài trợ chính của hoạt động nghiên cứu. Đặc biệt, phần tài trợ của Chính phủ cho nghiên cứu triển khai ở Nhật Bản thấp nhiều so với Mỹ, Anh, Pháp, Đức… Nếu như doanh nghiệp đã có thể bỏ tiền cho các nhà khoa học thì cũng có thể đòi hỏi khoa học định hướng vào phục vụ trực tiếp cho mục tiêu thương mại.

Tách rời giữa nghiên cứu khoa học nói chung và hoạt động kinh tế đã từng là vấn đề của nhiều nước, và Nhật Bản cũng không phải trường hợp ngoại lệ. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, thời kỳ còn chịu sự giám sát của quân Đồng minh, cả hai nhóm cố vấn được Viện Hàn lâm quốc gia khoa học Mỹ gửi sang nghiên cứu tình trạng khoa học ở Nhật Bản đều rút ra kết luận rằng, vì tồn tại khoảng cách lớn giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất công nghiệp nên những phát minh không đưa được vào sử dụng trong phát triển công nghiệp. Đúng là có sự bất cập giữa khoa học hàn lâm và doanh nghiệp. Các nhà doanh nghiệp thấy khoa học hàn lâm quá xa xôi, viển vông, còn các nhà khoa học hàn lâm thấy giới công nghiệp nhìn nhận triển vọng quá thiển cận. Tuy nhiên, đối với khoa học doanh nghiệp, nhờ điều kiện hoạt động gắn bó với kinh doanh, tình hình lại khác hẳn.

Trong mối quan hệ nội tại với hoạt động sản xuất kinh doanh, việc thuyên chuyển nhân sự từ bộ phận nghiên cứu sang bộ phận sản xuất kinh doanh và ngược lại được diễn ra trôi chảy nhằm duy trì có hiệu quả mối quan hệ giữa hai bên. Trên thực tế, ở Nhật Bản, nếu như trong các phòng thí nghiệm hàn lâm, mọi người đều là những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp suốt đời, thì tại các phòng thí nghiệm doanh nghiệp, số nhà nghiên cứu làm việc ở phòng thí nghiệm suốt đời chỉ chiếm dưới 30%.

Trước sức ép cạnh tranh thị trường, mục tiêu nghiên cứu khoa học doanh nghiệp luôn xoay quanh các giá trị thương mại. Nhận xét của Saburo Okita tỏ ra khá chính xác: “Khi nhập “bí quyết sản xuất” đôi khi người ta đã lựa chọn để lợi dụng triệt để các điều kiện địa phương và những sự lựa chọn đó nhiều khi không phải vì chính sách có ý thức của Chính phủ mà là vì hoạt động của các lực lượng thị trường”. Cũng có thể viện dẫn ra đây ý kiến của Shigeru Nakayama: “Khoa học cơ bản và sáng kiến trong khu vực tư nhân là nhằm tạo ra hạt giống cho việc thương mại hóa tương lai, cụ thể là “Nghiên cứu cơ bản thiên về nhiệm vụ”, nó khác biệt với khoa học cơ bản trong khu vực hàn lâm. Nói cách khác, tính sáng tạo trong khoa học hàn lâm và tính sáng tạo trong khoa học tư nhân là hai việc hoàn toàn khác nhau”.

Cuối cùng, hoạt động bắt chước sáng tạo của khoa học doanh nghiệp ở Nhật Bản đã được đặt trong những điều kiện khá thuận lợi. Ngay từ năm 1961 hàng loạt phòng thí nghiệm đã được thành lập tại các công ty lớn. Thực chất đây là những trung tâm bắt chước và cải tiến công nghệ nhập ngoại. Mặc dù vậy, trang bị của chúng khá hiện đại và nói chung vượt xa khu vực khoa học hàn lâm. Thậm chí ngân quỹ nghiên cứu của mỗi nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm doanh nghiệp cao gấp 15-40 lần con số ở phòng thí nghiệm đại học quốc gia(5). Phương thức sử dụng lao động và chất lượng của đội ngũ lao động tại các công ty Nhật Bản thực sự là môi trường lý tưởng phát huy các kết quả nghiên cứu khoa học. Trong hệ thống lao động thông thường ở các công ty phương Tây, kỹ thuật mới là một mối đe doạ đến công ăn việc làm và mức thu nhập của công nhân. Nhưng theo hệ thống quan hệ lao động từng tồn tại ở Nhật thì người lao động được đảm bảo ổn định lâu dài việc chế độ thuê mướn công nhân suốt đời. Thêm nữa, một phần khá lớn số tiền trả công lao động lại nằm dưới hình thức tiền thưởng có liên quan đến thành quả chung của công ty. Do đó, họ chẳng những không bị thiệt mà còn có lợi khi áp dụng công nghệ mới. Khả năng tiếp thu và thích ứng với quy trình công nghệ mới phụ thuộc vào trình độ học vấn và tay nghề của đội ngũ công nhân. Xã hội Nhật Bản nói chung và các công ty Nhật nói riêng rất chú ý nâng cao trình độ của người lao động chuẩn bị để xử lý tốt những kỹ năng phức tạp… Quan hệ lao động và trình độ tay nghề lao động không chỉ tạo thuận lợi cho việc tiếp thu thành tựu KH & CN mà còn tạo điều kiện cho người lao động tham gia sáng tạo công nghệ. Chính phong trào kiểm tra chất lượng bắt đầu từ cấp quản đốc phân xưởng với những đề nghị “từ dưới lên” đã góp phần đưa trình độ quản lý chất lượng sản phẩm của công ty Nhật vượt các công ty Mỹ (kỹ thuật quản lý chất lượng vốn được nhập từ Mỹ vào Nhật).

III. Bắt chước có tổ chức và bài bản.

Khẳng định chủ thể chính của bắt chước có tính chất sáng tạo công nghệ nhập ngoại là lực lượng khoa học doanh nghiệp và thừa nhận khả năng tiếp thu thành quả của thế giới, sau đó biến thành của mình, như là bản sắc văn hóa của dân tộc Nhật dường như gợi cho người ta hình dung về một quá trình tự phát nào đó. Thực chất lại không phải như vậy. Bắt chước và sáng tạo công nghệ đã diễn ra ở Nhật Bản một cách có tổ chức và khá bài bản.

Trước hết, những công nghệ nhập vào đều thông qua lựa chọn kỹ lưỡng. Có thể nói 42.000 hợp đồng nhập khẩu công nghệ của nước ngoài, thời kỳ 1951-1984, đã tiêu biểu cho nền công nghệ tiến tiến nhất có thể có được trên thế giới. Chúng là kết quả rút ra từ những công trình nghiên cứu công phu và những ưu điểm so sánh giữa các công nghệ đang cạnh tranh với nhau của các tổ chức nghiên cứu ở Nhật Bản. Nhờ lựa chọn đúng đắn, nhiều hợp đồng công nghệ trở thành nền tảng gây dựng những ngành công nghiệp mới, hiện đại cho nền kinh tế như: giấy phép sử dụng bằng sáng chế về nilông của công ty Dupont và Terilen mở ra ngành dệt bằng sợi tổng hợp; kỹ thuật chế tạo tranzito của phòng thí nghiệm Bell đã mở đầu cho ngành công nghiệp chế tạo bán dẫn; giấy phép của hàng RCA đưa Nhật Bản đi vào lĩnh vực vô tuyến truyền hình mầu…

Cơ sở cho sự lựa chọn là khả năng thu thập thông tin về công nghệ trên thế giới. Trung tâm Thông tin Nhật Bản về khoa học kỹ thuật (JICST) đã giám sát chặt chẽ tin tức công nghệ khắp thế giới hàng thập kỷ. Các bộ phận chức năng của Bộ Công nghiệp và thương mại quốc tế (MITI) cũng thường xuyên dự kiến những khuynh hướng phát triển trong tương lai nhằm phục vụ cho doanh nghiệp. Sự hỗ trợ đắc lực của Nhà nước cùng với những nỗ lực tiếp xúc của cá nhân đã giúp cho khả năng thu thập tin tức của khoa học doanh nghiệp Nhật Bản có phần hơn hẳn khoa học doanh nghiệp của Mỹ.

Nhập khẩu công nghệ là một nội dung quan trọng trong chính sách công nghiệp của Nhật Bản, do đó, nó được MITI kiểm soát gắt gao. Kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II đến cuối những năm 1970, không có một hợp đồng chuyển giao công nghệ nào lọt được vào nước Nhật nếu không có sự đồng ý cuả MITI, không có một hợp đồng chuyển giao công nghệ nào diễn ra mà MITI không xem xét kỹ càng và thường hay sửa đổi các điều khoản không có bản quyền sáng chế nào được mua mà MITI không ép người bán hạ giá hoặc làm những thay đổi khác có lợi cho nền công nghiệp Nhật Bản, không có chương trình nhập khẩu kỹ thuật nước ngoài được thông qua trước khi MITI nhất trí rằng thời điểm này là đúng và ngành công nghiệp có liên quan đã đủ khả năng để tiêu hóa công nghệ đó(6). So với việc tự đứng ra độc lập giao dịch với bên ngoài thì rõ ràng quy gọn đầu mối về MITI sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt những bất lợi trong thương lượng.

Một dấu hiệu khác thể hiện tính chất có tổ chức của bắt chước sáng tạo là quan hệ phối hợp trong hoạt động cn của các doanh nghiệp. Phương pháp mà Chính phủ Nhật thường áp dụng là tập hợp chuyên gia từ các công ty khác nhau, gồm cả khu vực hàn lâm, và lập thành hội nghiên cứu công nghệ. Khoản tài chính Chính phủ cung cấp cho những hội này không nhiều lắm. Khi nghiên cứu và triển khai đến điểm kinh doanh có thể cạnh tranh được thì hội bị giải tán và Nhà nước để mặc cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường. Đây chính là cách thức đưa trình độ công nghệ Nhật Bản tiến gần tới tiêu chuẩn Mỹ, mà ví dụ tiêu biểu hơn cả là thành công của chương trình về tổ hợp mạch vi điện tử thang độ cực lớn (VLSI).

(Nguồn: Trung tâm nghiên cứu nhật bản) 

TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN BẠN ĐỜI VÀ CHI PHÍ CƯỚI XIN Ở NHẬT BẢN

Gia đình Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới thứ hai có nhiều thay đổi cùng với sự phát triển kinh tế. Bài viết này đề cập tới một số thay đổi trong việc lựa chọn bạn đời cũng như trong cưới xin.

Cùng với sự thay đổi của thời gian, những tiêu chí lựa chọn bạn đời cũng thay đổi theo sự phát triển kinh tế – xã hội và mức sống tăng lên.

Cuộc thăm dò ý kiến do các nhà xã hội học tiến hành năm 1972 đã khám phá ra điều là trong số “những phẩm chất của người bạn đời tương lai” phần lớn nam nữ thanh niên đã đánh giá “sự hấp dẫn về mặt tình dục” chiếm vị trí đầu tiên, thứ hai là “sự lôi cuốn, đam mê lẫn nhau” và thứ ba là “sức khoẻ”. Diện mạo bề ngoài cũng như cách ăn mặc, cử chỉ hành vi ứng xử, dáng đi đứng của người vợ tương lai cũng có ý nghĩa đặc biệt với các chàng trai. Còn các cô gái thì ưa thích “sự thông minh”, “biết kiếm tiền” và “đạt được nhiều thành tích trong học hành” của các chàng rể tương lai1.

Trong cuộc trưng cầu dư luận xã hội về vấn đề trên do Văn phòng Thủ tướng tiến hành vào tháng 5/1979, phần đông những phụ nữ được phỏng vấn chưa lập gia đình đều cho rằng họ thích người chồng tương lai của họ “phải thật sự là người đàn ông, có bản lĩnh và phải là chỗ dựa cho họ sau này”, chiếm 44%, trong đó một phần không nhỏ (40%) thì lại cho rằng “người chồng tương lai phải là người rất hiểu họ”. Những phẩm chất khác, đối với những câu trả lời dành cho người đàn ông chưa vợ nhận thấy: phần lớn trong số họ (57%) cho rằng họ thích hơn cả là “người phụ nữ tính tình điềm đạm” và phần nhỏ trong số họ (25%) thiên về người vợ “thông minh” và có “ngoại hình hấp dẫn”.

Song, cũng có những cơ sở để cho rằng trong việc lựa chọn người bạn đời, những người Nhật Bản đều tuân thủ theo không những các hình thức bên ngoài và cả những tư chất bên trong của những đối tượng mà họ có ý định kết hôn mà có những tiêu chí nhất định thoáng qua là có thể thấy rõ ngay. Cụ thể, tiềm năng, năng lực tiến thân về mặt xã hội của các chàng rể và cô dâu tương lai là có ý nghĩa quan trọng nhất, được biểu hiện ra trong nghề nghiệp chuyên môn, trình độ học vấn, tài sản hiện có. Người Nhật Bản rất chú ý đến những điều trên. Không phải ngẫu nhiên, trên “các danh thiếp” đều có ghi rõ nghề nghiệp, chức vụ, làm ở công ty nào hiện phổ biến hết sức rộng rãi khắp đất nước. Điều này không chỉ có trong lĩnh vực kinh doanh mà cả trong lĩnh vực hôn nhân nữa. Đối với những người đàn ông, nghề nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng và triển vọng lấy được vợ phụ thuộc vào thứ bậc , danh tiếng của công ty nơi anh ta đang làm việc và sẽ làm việc suốt đời.

Năng lực, tiềm năng tiến thân trên thang bậc đẳng cấp xã hội trong xã hội Nhật Bản hiện nay của các chú rể, cô dâu tương lai càng cao thì càng có nhiều cơ hội kén chọn bạn đời. Cuộc chạy đua “săn tìm” những cô gái của các “gia đình” có danh tiếng, quyền quý là một trong những công việc chính hàng ngày đối với các gia đình có con trai nối dõi sau naỳ và đối với các gia đình giàu có thuộc tầng lớp trên trong xã hội Nhật Bản. Chính trong tầng lớp này thấy biểu hiện rất rõ hầu như hoàn toàn xem thường tình yêu, là nền tảng của các mối quan hệ vợ chồng mà chỉ nhìn thấy “cuộc hôn nhân có đạt kết quả như ý muốn của họ hay không”, và chỉ xem hôn nhân như là một trong những phương tiện củng cố địa vị xã hội cũng như tài sản của họ.

Ngày nay, cái mốt của những đám cưới là sau khi tổ chức, đôi vợ chồng đi du lịch hưởng tuần trăng mật ở nước ngoài (77,2%), du lịch trong nước (19,3%). Nơi đến là Hawai, tiếp theo sau là Guan, Tây Ban Nha, các nước Nam Thái Bình Dương (vào những năm 1980). Vào đầu những năm 1990 có thay đổi đôi chút (số liệu năm 1994), phần lớn các cặp vợ chồng thích hưởng tuần trăng mật ở Oxtrâylia. Trung bình mỗi chuyến đi hết 796 ngàn yên và 38% số tiền chi phí cho đám cưới đổ lên đầu bố mẹ họ.Theo thống kê năm 1999, số ngày đi hưởng tuần trăng mật của đôi vợ chồng trẻ trung bình là 7,7 ngày.

Hiện nay xu hướng số cặp vợ chồng muốn tổ chức lễ cưới ở nhà thờ gia tăng. Để đáp ứng xu thế trên, các cơ quan dịch vụ đã tổ chức cả lễ cưới ở trong các nhà thờ châu Âu mà họ sẽ tới cũng như nơi tiếp khách khi họ trở về. Điều này cũng phản ánh nguyện vọng của phụ nữ muốn du ngoạn nước ngoài cũng như xu hướng coi nhẹ các nghi thức cưới xin, xem đó như là hình thức giải trí. Nhưng nhiều người có quan điểm ngược lại. Họ cho rằng nếu như xu hướng này cứ tiếp tục gia tăng thì cưới xin theo truyền thống sẽ bị phá vỡ.

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm : 08:45:10 Sunday, May 27, 2007

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: