Tết Nguyên Ðán có từ đời Ngũ Ðế, Tam Vương.

Ðời Tam Vương, anh Hạ, chuộng màu đen, nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần và do đó Tết Nguyên Ðán vào đầu tháng Dần.

Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu, tháng Chạp làm tháng đầu năm.

Qua nhà Chu 9 1050-226 trước Công Nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý, tháng mười một làm tháng Tết.

Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà Ðặt ra ngày tết khác nhau.

Ðến đời Ðông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một tháng nhất định: tháng Dần. Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công Nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng Mười.

Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Ðế (140 trước Công Nguyên), lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng Giêng, như đời nhà Hạ, và từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Ðến với Ðông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.

Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy.

Nguyên là bắt đầu, Ðán là buổi sớm mai. Tết Nguyên Ðán tức là Tết bắt đầu năm, mở đầu một năm mới với tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang. Năm mới đến, những sự may mắn mới cũng đến và bao nhiêu điều đen đủi không may của năm cũ đều theo năm cũ mà hết.

Tết do chữ Tiết mà ra, là “thời gian” đặc biệt đã được ấn định trong năm. Theo Âm Lịch hay lịch ta, trong một năm có nhiều Tết, chẳng hạn như Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọc, Tết Trung Thu, Tết Trùng Cửụ Tết Nguyên Đán hay Tết Cả. Tết quan trọng và lớn nhất trong năm của người Việt Nam là Tết Nguyên Đán (Nguyên là bắc đầu hay đầu tiên, Đán là buổi sớm mai) Nguyên Đán là ngày đầu tiên của một năm mới âm lịch, tức là ngày một một tháng Giêng tạ Vì Tết Nguyên Đán là Tết lớn nhất trong năm, cho nên người ta còn gọi là Tết Cả. Để khỏi lầm lẫn với dương lịch, Tết Nguyên Đán cũng còn được gọi là Tết Ta (trong khi mồng một tháng Giêng dương lịch thì gọi là Tết Tây).

Người Việt mình có lệ sửa soạn và sắm Tết trước cả tháng trờị Những buổi chợ mở gần ngày Tết Nguyên đán được gọi là phiên chợ Tết.

Trước đây, ở chốn thôn quê Việt Nam, các chợ không mở thường trực như ở các đô thị. Các chợ phủ, huyện hay làng lân cận nhau, thường luân phiên nhóm họp vào các ngày nhất định trong tháng để người đi buôn (bán hàng) và người đi chợ (mua hàng) có thể tới mua và bán ở các chợ này vào những ngày mà mình thấy thuận tiện. Bởi vậy, các phiên chợ Tết rất là quan trọng. đây là những ngày họp chợ lớn nhất trong năm vì người mua và kẻ bán đều đổ dồn về các chợ này để mua bán trao đổi cùng nhaụ

Tuỳ theo điạ phương, các phiên chợ Tết rất là quan trọng. đây là những ngày họp chợ lớn nhất trong năm vì người mua và kẻ bán đều đổ dồn về các chợ này để mua bán trao đổi cùng nhaụ

Tùy theo điạ phương, các phiên chợ Tết thường được mở chậm lắm là trước ngày 23 tháng Chạp âm Lịch (là ngày người ta làm lễ tiễn đưa ông táo về chầu trời) Các phiên chợ mở vào ngày gần Tết thì gọi là phiên chợ giáp Tết, và phiên chợ cuối cùng của năm cũ gọi là phiên chợ cuối năm.

Tại các phiên chợ Tết, người ta thường mua bán những thứ không thể thiếu trong ngày Tết. Việc mua bán này gọi là sắm Tết. Thông thường nhà nào cũng mua sắm gạo nếp, đậu xanh, thịt mỡ, lá dong hay lá chuối để gói bánh chưng, dưa, hành, cá, thịt, miến, nấm, măng, mộc nhĩ để làm cơm cúng gia tiên, hoa quả, bánh mứt, hạt dưa để mời khác trong những ngày Tết….

Để trang hoàng nhà cửa mừng năm mới, người Việt thích trưng bày những thứ hoa của mùa Xuân như hoa cúc, hoa thược dược, cành hoa đào (ở miền Bắc Việt Nam); cành mai vàng (ở miền Nam Việt Nam). Cầu kỳ hơn thì người ta bày hoa Thủy Tiên là một thứ hoa lâu tàn, có sắc đẹp và hương thơm lạ lùng (nhưng cần phải biết nghệ thuật ươm, trổ thi mới có thứ hoa lạ, quý này nở đúng vào những ngày đầu Xuân.) Ngoài ra trong ngày Tết, người ta cũng còn thích chưng những chậu cây có trái như cam, quýt, quất…v.v..

Sửa soạn ngày Tết

Tết Nguyên Ðán tuy bắt đầu từ mồng một tháng Giâng, nhưng sự thực người ta sửa soạn Tết ngay từ đầu tháng Chạp.

Nhà nhà lo mua gạo, nếp, đậu xanh để đến gần Tết gói bánh chưng, và tại nhiều vùng, gói bánh chưng bằng lá dong, người ta phải mua lá về, đem luộc chín, bó vào các cột nhà, để khi gói bánh thì dùng. Gói bánh bằng lá chín dễ gói, nhưng bánh bóc ra kém màu xanh. Nhiều nơi gói bằng lá sống, họ không luộc lá, nhưng độ ngoài rằm tháng chạp họ đã phải mua sẵn sợ đến khi giáp Tết giá sẽ cao và có khi không có.

Người ta cũng sửa soạn vại dưa hành ngay từ đầu tháng chạp, vì dưa hành cần muối sớm đến Tết mới kịp ăn. Người ta cũng lo mua sắm những phẩm vật dùng cho ngày Tết, mua sắm gà vịt thả trong vườn, rủ nhau chung đụng để ngày gần Tết hùn nhau mổ lợn.

Người ta sắm sẵn hương vàng dùng để cúng ở trong nhà cũng như dùng để gửi Tết, và người ta cũng mua sẵn những bánh mứt hoa quả, một phần dành cho gia đình, một phẩn gửi Tết, một phần mang Tết những người mình chịu ô như thầy giáo, ông lang, chủ nợ…

Người ta cũng lo tới bộ quần áo ngày Tết, nhất là Ðối với các cô gái mới lớn. Dân làng cũng sửa soạnTết chung cho cả làng, trù tính việc mở hội đầu năm, việc cúng thần ngày Tết.

Trang hoàng nhà cửa

Người ta phải đón xuân trong một khung cảnh sáng sủa, sạch sẽ , đẹp đẽ. Do đó trước ngày Tết, nhà nào cũng lau quét cửa nhà, trang hoàng trong nhà cho xứng đáng với năm mới.

Những đồ đồng được đem đi đánh bóng. Án thư mâm bàn đều lai rửa lại kỹ lưỡng cùng với tất cả các tự khí khác kể cả hoành phi câu đối. Những câu đối đỏ cũ được thay bằng những câu đối mới, những đôi liễn mới. Bàn thờ được cắm thêm hoa, các y môn được đem giặt lại hoặc thay thế.

Trên tường, ngoài cổng còn có dán những tranh Tết, tranh Ðàn gà mẹ con, tranh lý ngự vọng nguyệt, tranh hứng dừa, đám cưới chuột….

Mâm Ngũ Quả Ngày Tết

Người Việt Nam luôn luôn trọng nghĩạ Bất kỳ lễ lạc nào đều có sắc thái đề cao tổ tông. Ngày Tết cũng vậy, nhà nào cũng có tục lệ bày soạn mâm quả để dâng cúng tổ tiên ông bà. Ngũ là năm (5) vì vũ trụ được tạo bởi năm nguyên tố căn bẳn: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mâm ngũ quả thường gồm năm loại quả mà tên gọi có ý cầu mong một điều gì đó. Trong mâm quả thường hay có Mãng Cầu, tức là cầu chúc cho mọi điều đều như ý; có Dừa, vì âm “dừa” tương tự như là “vừa”, có nghĩa là không thiếu; có Sung, vì gắn với biểu tượng sung mãn về sức khỏe hay tiền bạc; rồi Đu Đủ, vì đó có nghĩa là mang một năm mới được đầy đủ thịnh vượng; Ngoài ra còn có Xoài, vì tên “Xoài” na ná như là “xài”, để cầu mong cho tiêu xài không thiếu thốn. Ngày nay, các mâm ngũ quả còn được chen thêm nhiều loại quả khác để cho thêm phần đẹp mắt, chẳng hạn như Dưa Hấu, Táo, Đào Tiên, Quýt …

Tục Mâm Quả ngày Tết là một nét đẹp của dân tộc Việt Nam, nó biểu tượng cho lòng biết ơn ông bà tổ tiên của mỗi người Việt, cũng như lòng ước mong một năm mới an khang, nhiều may mắn, tốt đẹp.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: