Vịnh Hạ Long

GIÁ TRỊ THẨM MỸ

Vịnh Hạ Long là một tác phẩm điêu khắc hùng vĩ và kỳ lạ của thiên nhiên. Từ xưa đến nay, Hạ Long đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nghệ sỹ. Một vùng biển nước trong xanh, phẳng lặng được điểm xuyết bởi vô vàn những hòn đảo lớn nhỏ khi quần tụ, lúc rải rác với muôn hình, muôn vẻ. Ngắm nhìn Hạ Long, người ta có cảm giác như ngắm một tác phẩm tạo hình kỳ vĩ nhưng chỉ với hai chất liệu đơn giản: Đá và Nước.

Cảnh đẹp Hạ Long luôn thay đổi theo góc nhìn, thời gian và tâm trạng của người ngoạn cảnh. Từ bờ trông ra, đảo đá như bức tường thành vững chãi ngăn đất liền với biển khơi, nhưng khi đến gần, bức tường ấy mở ra nhường lối, và đảo đá lại hiện ra, gần, xa thấp thoáng. Cứ thế, Hạ Long luôn cuốn hút người ta mê mải kiếm tìm, khám phá. Đi giữa Hạ Long với muôn nghìn đảo đá, người ta dễ dàng tìm thấy những nét phác thảo vạn vật của tạo hoá. Hai chú gà hướng mỏ vào nhau như đang âu yếm, tình tự (hòn Trống Mái); chú đại bàng đậu trên mỏm đá rình mồi (hòn Đại Bàng) hay ông già đang ngồi câu cá (hòn Lã Vọng)… Nhưng khi thuyền qua, ngoảnh đầu lại, những hình ảnh ấy thoắt biến mất, làm bất ngờ và bối rối khách thăm quan.

Cảnh đẹp Hạ Long không chỉ phô bày ở dáng núi, sắc trời, những hòn đảo đá cũng chứa đựng trong lòng những tác phẩm điêu khắc tinh xảo, độc đáo, đó là hệ thống hang động vô cùng phong phú. Mỗi hang động có một vẻ đẹp khác nhau tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn lạ lùng. Động Thiên Cung chau chuốt, lộng lẫy như được chạm khắc từ pha lê; hang Đầu Gỗ được mệnh danh là “động của các kỳ quan” với kiến trúc khỏe khoắn và hoành tráng; hang Sửng Sốt như mở ra một thế giới cổ tích, thần thoại…

Nhưng nếu chỉ là một tạo tác thuần túy tự nhiên, Hạ Long không hấp dẫn đến thế, cũng không đủ thuyết phục 100% thành viên các nước trongỦy ban Di sản thế giới. Hạ Long – vùng thiên nhiên duyên dáng, thơ mộng ấy còn là một thế giới có tâm hồn, lịch sử, có buồn vui, hạnh phúc…

Đến nơi đây, thiên nhiên thơ mộng cũng chất chứa nội tâm, cũng khát khao tình yêu đến cháy bỏng:

Và vẻ đẹp của Hạ Long còn được nhân lên gấp bội vì nó mang trong mình những giọt mồ hôi, nụ cười, nước mắt của những người nư dân, công nhân lao động cần cù, sáng tạo:

Những con người ấy luôn yêu đời, yêu lao động, yêu Hạ Long và cùng nhau góp sức làm cho Hạ Long đẹp mãi.

HẠ LONG – NHỮNG TRANG SỬ ĐÁ

Nếu giá trị cảnh quan tự nhiên tuyệt vời dễ thấy đã tôn vinh khu Di sản, phản ánh hình thể và màu sắc của một viên ngọc quý, thì giá trị địa chất cần được xem như là cấu trúc và chất liệu tạo nên viên ngọc ấy. Dải ven bờ và trong lòng Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều hệ tầng trầm tích thành phần cacbonat và lục nguyên với nhiều di tích cổ sinh vật dưới dạng hoá thạch, trong đó có các ngành, động thực vật đã bị biến mất trên trái đất. Đó là những trang sử đá ghi lại những biến cố vĩ đại của quá trình địa chất và tiến hoá của sự sống. Lịch sử địa chất lâu dài của Vịnh Hạ Long được biết ít nhất trên 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, với nhiền lần tạo sơn – biển thoái, sụt chìm – biển tiến. Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vào các kỷ Odovic – Silua (khoảng 500 – 410 triệu năm trước) là biển nông vào các kỷ Cacbon – Pecmi (khoảng 340 – 250 triệu năm  trước), biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen – đầu Neogen (khoảng 26 – 20 triệu năm trước) và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh (khoảng 2 triệu năm qua).     Xen kẽ với các thời kỳ biển tồn tại là các thời kỳ lục địa. Vịnh Hạ Long đã trải qua những thời kỳ cổ địa lý rất đặc biệt. Kỷ Cacbon (340 – 285 triệu năm trước) là thời gian nóng ẩm của trái đất, phát triển môi trường đầm lầy thực vật thuận lợi cho hình thành các bể than đá khổng lồ ở châu Âu thì ở Vịnh Hạ Long lại là vùng biển nông, khí hậu khô nóng để hình thành nên tầng đá vôi dày. Trái lại, vào kỷ Trias (240 – 195 triệu năm trước) khi trái đất nói chung, châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ… Vịnh Hạ Long ngày nay mới được hình thành trong 7 – 8 nghìn năm qua. Nhưng để có Vịnh, đã phải có một biển cổ tích tụ tầng đá vôi dày trên nghìn mét trong khoảng 340 – 240 triệu năm trước, một thời kỳ xâm thực Karst kéo dài trên 20 triệu năm trong môi trường lục địa kỷ Neogen và Nhân sinh, và phải có một biển tiến hành tinh liên quan tới trái đất ấm lên – băng tan trong hơn vạn năm qua…  Do vậy, Vịnh Hạ Long  mang nhiều giá trị quý giá cho khoa học địa chất kỷ Nhân sinh và địa chất biển. Các bậc thềm biển nâng cao, các bề mặt đồng bằng phân bậc nằm chìm dưới đáy Vịnh, các dòng sông cổ ngập chìm, hang động, trầm tích hang động, các ngấn biển cổ và bệ hàu hà nằm cao trên vách đá là kho tư liệu quý giá nghiên cứu biến động mực nước biển cổ và hiện đại, cũng như ảnh hưởng của nó tới con người từ các nền văn hoá khảo cổ xa xưa như Soi Nhụ, Tiền Hạ Long và Hạ Long rồi cho đến ngày nay. Vịnh Hạ Long là mẫu hình tiêu biểu về một Vịnh biển tạo nên không phải từ các mũi nhô, mà từ hệ thống đảo chắn. Đó là Vịnh thuỷ triều, nhật triều đều biên độ lớn điển hình nhất thế giới, một kiểu bờ ăn mòn hoá học tiêu biểu và   đặc sắc.   Vịnh Hạ Long còn là mẫu hình tuyệt vời về Karst trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới ẩm. Vịnh có một quá trình tiến hoá Karst đầy đủ trải qua 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. ở đây có đủ tất cả các cấp bậc của địa hình Karst, các hệ thống hang động cổ, hang động đang hoạt động và cả hang động tạo ra do quá trình biển, rất phổ biến kiểu địa hình Karst kiểu FenglingFengcong. Kiểu mẫu Fengling gồm các cụm đồi đá vôi hình chóp nằm kề nhau, điển hình là ở khu đảo Bồ Hòn và Đầu Bê. Các chóp và tháp bị biển tràn ngập cánh đồng Karst, tách rời nhau tạo lên cảnh quan vô cùng đặc sắc…biển còn làm chìm các phễu Karst, biến chúng thành những hồ nước mặn, như cụm hồ Ba Hầm nằm sâu trong lòng đảo Đầu Bê. Biển cũng tạo lên những ngấn vách, có khi ăn sâu thành hàm ếch, hang luồn, tô vẽ thêm dáng vẻ kỳ vĩ cho cảnh quan Karst. Hang động Vịnh Hạ Long rất phong phú, đa dạng và thuộc về ba nhóm chính.    Nhóm thứ nhất là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt – động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long,v.v… Nhóm thứ hai là các hang nền Kartơ tiêu biểu là Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trốngv.v… Nhóm thứ ba là những hang hàm ếch biển, tiêu biểu là ba hang thông ở khu hồ Ba Hầm, Hang Luồn v.v… Kartơ Vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoa học địa mạo. Về độ cao, độ dốc và số lượng các tháp đá vôi thì Vịnh Hạ Long đứng sau vùng Yangshu, Quảng Tây, Trung quốc. Nhưng Vịnh Hạ Long lại có thêm quá trình biển ngập và xâm thực biển đã tạo lên những nét mới làm cho địa mạo Kartơ Vịnh Hạ Long trở thành độc nhất vô nhị trên thế giới…Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác của Vịnh Hạ Long như đa dạng sinh học, văn hoá khảo cổ – lịch sử và các giá trị nhân văn khác. Đánh giá của IUCN về giá trị địa chất Vịnh Hạ Long như sau: “…Vịnh Hạ Long là một điển hình về biển gắn với cảnh quan tháp karst và là một trong những khu vực quan trọng nhất thế giới về Karst fengcong và fengling. Mặc dù di sản có những nét đặc trưng địa mạo giống với nhiều vùng khác nhưng rõ ràng, nó vẫn hơn hẳn so với bất kỳ khu vực nào trên thế giới. Hơn thế nữa, khu Di sản Hạ Long thể hiện đầy đủ tính nguyên vẹn về các quá trình địa chất ở quy mô lớn. Mặc dù loài người đã cư trú ở khu  vực này rất lâu, nhưng điều này không làm mất đi mà vẫn lưu giữ được đặc tính tự nhiên vốn có.  Vịnh Hạ Long có thể được coi như là một Di sản có tháp Karst đá vôi rộng lớn và phát triển tốt nhất thế giới…”    Khi nghiên cứu về địa chất vùng đá vôi Karst Vịnh Hạ Long, giáo sư Tony Waltham – Viện địa lý Hoàng gia Anh – đã đánh giá rất cao giá trị địa chất, địa mạo khu vực này. Báo cáo của ông có đoạn viết: “…Vịnh Hạ Long là một điển hình phát triển lớn nhất và mạnh nhất trên thế giới về cảnh quan tháp Karst đã bị biển làm chìm ngập. Vùng Di sản này mang đặc trưng của cả hai vùng Karst fengling và fengcong. Nó có thể so sánh với các tháp Karst thuộc vùng Yangshua (Quế Lâm) tại Quảng Tây, Trung Quốc, nhưng Vịnh Hạ Long thì lại ở trên biển…”. “… Không thể nói gì hơn, ta có thể khẳng định rằng: Vịnh Hạ Long là một thắng cảnh Karst mang ý nghĩa toàn cầu với nền tảng cơ bản là khoa học địa chất. Hạ Long bao gồm tất cả địa hình dạng fengcong, fengling, các hang động vẫn đang trong quá trình phát triển. Cùng với giá trị về mặt cảnh quan, giá trị về địa chất học của Hạ Long cần phải được bảo tồn vì lợi ích của loài người…”

GIÁ TRỊ ĐA DẠNG SINH HỌC

Một đặc điểm nổi bật nữa của Vịnh Hạ Long và vùng phụ cận là nó chứa đựng trong mình một tiềm năng đa dạng sinh học to lớn. Đây là một nguồn tài nguyên quan trọng cần được giữ gìn, bảo tồn để duy trì cân bằng sinh thái cho cả khu vực. Đa dạng sinh học Hạ Long có thể chia làm hai hệ sinh thái lớn, đó là: Hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới; Hệ sinh thái biển và ven bờ.   Hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới:  Tổng số loài thực vật sống trên các đảo ở Vịnh Hạ Long đến nay vẫn chưa xác định, nhưng con số có lẽ phải lên đến trên một nghìn loài, phân bố không đồng đều. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau được tìm thấy như: Các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá. Tất cả các loài thực vật này đều thích nghi tốt với điều kiện sống trên các đảo đá vôi của Vịnh Hạ Long. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu của Văn phòng IUCN tại Hà Nội đã khảo sát và phát hiện 7 loài thực đặc hữu của Vịnh Hạ Long, nó chỉ thích nghi với điều kiện sống trên đảo đá vôi Hạ Long mà chưa thấy ở nơi nào khác trên thế giới đó là: Thiên Tuế Hạ Long, Khổ Cử Đại Tím, Cọ Hạ Long, Khổ Cử Đại Nhung, Móng Tai Hạ Long, Ngũ Da Bì Hạ Long, Hài Vệ Nữ Hoa Vàng. Theo thống kê của Viện Sinh thái và Tài nguyên, Hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới ở Hạ Long và Bái Tử Long có: 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; Đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 8 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú.

Hệ sinh thái biển và ven bờ: Bao gồm hệ sinh thái đất ướt và hệ sinh thái biển:  

Hệ sinh thái đất ướt: Có thể chia vùng đất ướt của Hạ Long và phụ cận làm 6 dạng sinh thái như sau:   * Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn:  Khu vực Hạ Long và vùng phụ cận có 20 loài thực vật ngập mặn. Nhưng rừng ngập mặn Hạ Long còn đóng vai trò là nơi sống cho nhiều loài sinh vật khác do đó nó mang năng suất sinh thái rất cao. Theo kết quả nghiên cứu của Phân viện Hải Dương học Hải Phòng, đây là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ; 16 loài rong biển; 90 loài cá, 200 loài chim và 5 loài bò sát và 6 loài khác).   * Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô:  Hiện nay người ta đã thống kê được 170 loài san hô trên vùng Vịnh Hạ Long. Đây là nhóm động vật thuộc ngành ruột khoang, trong đó chủ yếu thuộc lớp san hô và lớp thuỷ tức. Lớp san hô gồm 9 bộ, trong đó bộ san hô cứng có 122 loài. Tạo rạn san hô trong Vịnh Hạ Long chủ yếu là các loài của bộ san hô cứng (mặc dù không phải loài san hô cứng nào cũng tham gia tạo rạn). Rạn san hô Hạ Long cũng là nơi sinh cư của 81 loài chân bụng; 130 loài hai mảnh vỏ; 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua. Đây  cũng là một hệ sinh thái mang năng suất sinh thái cao, đồng thời là bộ lọc giúp làm sạch môi trường nước.   * Dạng sinh thái hang động và tùng, áng  Theo định nghĩa của Phân Viện Hải Dương học Hải Phòng, áng là các hồ chứa nước, nằm giữa các đảo; còn tùng là vùng nước có một cửa tương đối kín, ít sóng. Đây là những điều kiện tự nhiên tạo nên các hệ sinh thái đặc biệt, làm tăng giá trị cảnh quan của Vịnh. Ví dụ: Tùng Ngón là nơi cư trú  của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy, 18 loài rong biển. Đặc biệt ở đây có đến 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ.    * Dạng sinh thái đáy mềm  Đây là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển. Cỏ biển ở Hạ Long có số loài không lớn: 5 loài, nhưng lại là nơi cư trú cho nhiều loài, có tác dụng chắn sóng và tham gia hấp thụ các chất hữu cơ, làm sạch nước biển. Hiện nay, Phân viện Hải Dương học Hải Phòng đã thống kê được số lượng các loài sống cùng cỏ biển như sau:17 loài rong biển (trong tổng số 91 loài rong biển trên Vịnh Hạ Long); 41 loài động vật đáy; 3 loài giun nhiều tơ; 29 loài nhuyễn thể; 9 loài giáp xác.   * Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn  Thường phân bố ở đới triều thấp. Sinh vật sống trên vùng triều đặc trưng là dộng vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh dưỡng cao như sá sùng, hải sâm, sò, ngao v.v… Hầu hết những nguồn hải sản này đang bị khai thác quá mức.   * Dạng sinh thái nhân tạo  Đây là các điều kiện sinh thái do con người tạo ra nhằm mục đích nâng cao sản phẩm sinh học. Ví dụ: ở Hạ Long hiện nay người ta quai đê lấn biển để nuôi tôm, nuôi cá, trồng rong cũng như làm lồng bè trên biển để nuôi hải sản hay làm ruộng để nuôi sò, ngao… Về mặt môi trường, các tác nhân nhân tạo như chặt phá rừng ngập mặn để làm đầm nuôi làm thay đổi các điều kiện tự nhiên làm mất cân bằng sinh thái khu vực, ảnh hưởng đến năng suất vật nuôi.   Hệ sinh thái biển  Hệ sinh thái biển bao gồm: thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy biển và động vật tự du.   * Thực vật phù du (TVPD):  Là động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước, có thể tự dưỡng qua quá trình quang hợp. Đây là mắt xích đầu tiên trong cuối thức ăn tạo ra năng suất sơ cấp cho khu vực Vịnh Hạ Long, góp phần phân giải chất hữu cơ, hạn chế ô nhiễm nước. Theo kết quả điều tra TVPD ở Vịnh Hạ Long có 185 loài chỉ riêng Cửa Lục có 64 loài.   * Động vật phù du (ĐVPD):  Là động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước, đóng vai trò mắt xích thứ hai sau TVPD. Sự phân bố của ĐVPD phụ thuộc vào tầng nước và thời gian. Theo kết quả điều tra của của Phân Viện Hải dương học Hải Phòng thì vùng Hạ Long – Cát Bà có 104 loài ĐVPD sinh sống.   * Động vật đáy:  Nhóm sinh vật sinh sống ở đáy biển, cho giá trị dinh dưỡng cao. Theo thống kê sơ bộ, vùng Hạ Long – Cát Bà có đến 980 loài động vật đáy, trong đó có 300 loài động vật nhuyễn thể; 200 loài giun nhiều tơ; 170 loài san hô; 13 loài da gai.   * Động vật tự du:  Là động vật hoàn toàn có khả năng tự chủ bơi lội trong nước; di cư để tìm mồi, sinh sản hay trú đông. Đến nay người ta đã xác định được 326 loài động vật tự du, trong đó có: 313 loài cá, 10 loài bò sát và 3 loài thú biển.

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ – VĂN HOÁ

Hạ Long – một trong những cái nôi của người Việt cổ:

Quảng Ninh nói chung và Hạ Long nói riêng là nơi có một nền văn hoá lâu đời và liên tục. Đây là một nền văn hoá có những đặc trưng riêng, phân bố tập trung tại một khu vực độc lập nhưng không hề biệt lập, nó gắn liền với những nền văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn nổi tiếng của dân tộc ta. Theo T..S. Hà Hữu Nga – Viện Khảo cổ học, cho đến nay, chúng ta đã làm rõ được một lịch sử văn hoá từ ít nhất là 25000 năm cách ngày nay ở Hạ Long – nền văn hoá Soi Nhụ. Kế tiếp đó là nền văn hoá Cái Bèo – gạch nối giữa văn hoá Soi Nhụ và văn hoá Hạ Long.

Văn hoá Soi Nhụ (cách ngày nay 25000 năm đến 7000 năm) : Chủ yếu phân bố trong khu vực các đảo đá vôi thuộc Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, ngoài ra còn phân bố ở các hang động ven bờ thuộc các Vịnh ấy. Các dấu tích loài hào lớn tại các hang động thuộc nền văn hoá này cho phép khẳng định rằng: so với văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn cùng thời, người Soi Nhụ đã có một mô hình văn hoá đa dạng hơn, phong phú hơn, bởi vì trong phương thức kiếm sống của cư dân ở đây đã có thêm yếu tố biển.

Văn hoá Cái Bèo (cách ngày nay từ 7000 năm đến 5000 năm)- gạch nối giữa văn hoá Soi Nhụ và văn hoá Hạ Long: Các di chỉ thuộc nền văn hoá này phân bố trên bờ các vũng Vịnh kín gió tựa lưng vào núi, mà chủ yếu là núi đá vôi. Phương thức kiếm sống của người Cái Bèo, trước hết là định hướng khai thác biển sau đó là các phương thức truyền thống như săn bắt, hái lượm trên cạn. Trình độ chế tác công cụ lao động cũng như đồ gốm còn đơn giản, thô sơ. Đặc biệt, người Cái Bèo đã khai thác biển bằng cả giao lưu trao đổi trên biển.

Văn hoá Hạ Long (cách ngày nay từ 4.500 – 3500 năm) được chia làm hai giai đoạn sớm và muộn.

Giai đoạn sớm của văn hoá Hạ Long – giai đoạn Thoi Giếng là kết quả trực tiếp của đợt biển tiến Holoxen trung. Trong giai đoạn này, cư dân sống trên bề mặt của đồng bằng cổ pleixtoxen cao khoảng 6m so với mực nước biển hiện tại. Phương thức sống của họ là săn bắt, hái lượm. Nghệ thuật chế tác công cụ lao động cũng như đồ gốm bắt đầu tinh xảo hơn.

Giai đoạn muộn của văn hoá Hạ Long là kết quả của mực nước biển dâng cực đại rồi sau đó rút dần. Trong giai đoạn này, người Hạ Long cư trú trên những khu vực bị biển ngăn cách thành các đảo, họ đã hoàn toàn là cư dân của biển, kỹ thuật chế tác công cụ và đồ gốm đã trở thành đặc trưng của văn hoá Hạ Long. Giai đoạn muộn của văn hoá Hạ Long có một vị trí đặc biệt đối với nền văn minh Việt cổ.

Vịnh Hạ Long – nơi ghi dấu lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc:

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ tỵ, năm thứ 10, đời vua Lý Anh Tông, 1149, mùa xuân, tháng 2, thuyền buôn các nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải  Đông xin ở lại buôn bán, bèn cho tập trung ở nơi hải đảo gọi là Vân Đồn để mua bán hàng quý, dâng tiến sản vật địa phương…” Thương cảng Vân Đồn đã là nơi trao đổi, buôn bán sầm uất suốt một thời gian dài từ thời Lý, Trần đến Lê. Đồng thời, đó cũng là địa điểm giao lưu văn hoá rất phồn thịnh.

Vịnh Hạ Long còn là nơi ghi dấu ấn 3 trận thắng oanh liệt của quân và dân ta trên sông Bạch Đằng dưới sự chỉ huy của 3 vị anh hùng dân tộc: Ngô Quyền (năm 938); Lê Hoàn (năm 981) và Trần Hưng Đạo (năm 1288). Và lịch sử cũng không quên những chiến công vang dội của quân và dân Quảng Ninh qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ góp phần bảo vệ nền hoà bình cho tổ quốc.

Ngày nay, bên Vịnh Hạ  Long là nơi sinh sống của 21 dân tộc anh em với những phong tục tập quán khác nhau –  đó chính là di sản văn hoá phi vật thể của cả dân tộc. Nơi đây còn lưu giữ được hàng chục di tích lịch sử, văn hoá quý báu đã được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng như: quần thể di tích Yên Tử , khu di tích núi Bài Thơ, đền Cửa Ông, Bãi cọc Bặch Đằng .v.v…

QUÁ TRÌNH CÔNG NHẬN VỊNH HẠ LONG

LÀ DI SẢN THẾ GIỚI

Theo Công ước quốc tế về Bảo tồn Di sản tự nhiên và văn hoá, một khu vực được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới khi nó chứa đựng một hoặc một số tiêu chuẩn sau:

– Mang dấu ấn tiêu biểu về các giai đoạn chính của lịch sử trái đất bao gồm: quá trình phát triển cuộc sống, ý nghĩa của quá trình phát triển địa chất như: phát triển địa hình, hoặc ý nghĩa về địa chất học và địa văn học tiêu biểu.

– Mang dấu ấn tiêu biểu về sự hình thành sinh thái, đa dạng sinh học qua các quá trình xâm thực và phát triển lục địa, nước ngọt, bờ biển, hệ sinh thái biển và quần thể động thực vật.

– Có cảnh quan tự nhiên đẹp, đặc sắc độc đáo, mang giá trị thẩm mỹ cao.

– Là nơi cư trú tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, lưu giữ các loài động thực vật độc đáo, quý hiếm, có giá trị ngoại hạng về mặt khoa học và bảo tồn.

Hai  lần UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là di sản thế giới

Lần thứ nhất

Năm 1987, Chính phủ Việt Nam đã chính thức phê chuẩn, tham gia Công ước Quốc tế  Bảo vệ di sản thế giới, mở đầu việc hoà nhập vào các hoạt động quốc tế về việc bảo tồn, phát huy các gía trị di sản của Việt Nam.

Đầu năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng cho phép Uỷ ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam và Bộ Văn hoá Thông tin phối hợp với một số địa phương xúc tiến lập hồ sơ khoa học giới thiệu 5 Di sản văn hoá và thiên nhiên trong đó có Vịnh Hạ Long để UNESCO xem xét, công nhận vào danh mục Di sản thiên nhiên thế giới.

Đối với Vịnh Hạ Long, sau khi được Bộ VHTT và UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Quảng Ninh đã cùng các cở quan chuyên môn lập hồ sơ trình UNESCO. Hồ sơ được lập theo quy trình chung của UNESCO và phải đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó quan trọng nhất là phải chứng minh được giá trị toàn cầu của Di sản.

Tháng 10/1993, với sự nỗ lực của Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Ninh và sự giúp đỡ tận tình của các ngành liên quan, hồ sơ về Vịnh Hạ Long cơ bản được hoàn thành và trình Uỷ ban Di sản thế giới. Ngay sau khi nhận được hồ sơ, Uỷ ban Di sản thế giới đã cử các chuyên gia của ICOM (Hiệp hội bảo tàng thế giới) và IUCN (Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới) đến Hạ Long để thẩm định.

Từ tháng 2/1994 đến tháng 10/ 1994, hồ sơ tiếp tục được hoàn tất với quá trình làm rõ thêm ranh giới, tổ chức quản lý, bảo vệ di sản… để đệ trình Uỷ ban Di sản thế giới.

Ngày 17/12/1994, tại kỳ họp thứ 18, Uỷ ban Di sản thế giới đã chính thức công nhận Vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng về mặt thẩm mỹ theo tiêu chuẩn thứ 3 nêu trên với số phiếu biểu quyết 100%.

Lần thứ hai

Theo nhận định của ông Hans Friederich – Tiến sỹ địa chất học, Trưởng văn phòng đại diện của tổ chức IUCN tại Hà Nội – thì giá trị địa chất của Hạ Long là hết sức đặc biệt và hiếm có trên thế giới,  nó hoàn toàn

đủ điều kiện để công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Theo đề nghị của Ban Quản lý Vịnh Hạ Long và IUCN, tháng 9 năm 1998, tiến sỹ Tony Waltham – giáo sư nổi tiếng về địa chất trường Đại học Trent Nottingham – đã tiến hành nghiên cứu  địa chất vùng đá vôi Karst Vịnh Hạ Long.

Sau báo cáo của ông về giá trị địa chất Vịnh Hạ Long, Trung tâm Di sản Thế giới tại Pari đã gửi thư tới UBND tỉnh Quảng Ninh và Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản Lý Vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận giá trị ngoại hạng mang tính toàn cầu về địa chất vùng Karst Vịnh Hạ Long. Tháng 7 năm 1999, hồ sơ đệ trình Uỷ ban Di sản Thế giới công nhận Vịnh Hạ Long lần thứ hai về giá trị địa chất đã được hoàn tất. Sau khi được Bộ VHTT và Uỷ ban UNESCO Việt Nam phê duyệt, hồ sơ được gửi đến văn phòng Trung tâm Di sản Thế giới tại Pari. Tháng 12-1999, Uỷ ban Di sản Thế giới đã chính thức xác nhận vấn đề này và đưa việc thẩm định hồ sơ và công nhận giá trị địa chất Vịnh Hạ Long vào năm 2000.

Tháng 3 – 2000, Giáo sư Elery Hamilton Smith, một chuyên gia nổi tiếng của Australia, thành viên của tổ chức IUCN được cử tới Hạ Long để thẩm định tính xác thực của hồ sơ, giá trị địa chất cũng như đánh giá về thực trạng quản lý và đưa ra một số khuyến nghị.

Sau báo cáo của giáo sư Elery Hamilton Smith, tháng 7 năm 2000, kỳ họp giữa năm của văn phòng Trung tâm Di sản thế giới tại Pari đã chính thức đề nghị Uỷ ban Di sản Thế giới công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới bởi những giá trị ngoại hạng về mặt khoa học địa chất (nghĩa là theo tiêu chuẩn thứ nhất của Công ước).

Từ ngày 27- 11 đến 2-12-2000, kỳ họp toàn thể  lần thứ 24 của Uỷ ban Di sản Thế giới được tổ chức tại thành phố Cairns, Bang Qeensland, Australia. Tham dự hội nghị, ngoài các đại diện của UNESCO và Trung tâm Di sản Thế giới, còn có các đại biểu của 21 nước thành viên Uỷ ban Di sản Thế giới, đại diện các tổ chức chuyên môn, cùng các đại diện của gần 80 nước trong đó có Việt Nam. Ngày 29 tháng 11 năm 2000, việc công nhận giá trị toàn cầu nổi bật của Vịnh Hạ Long về địa chất địa mạo đã được Uỷ ban Di sản thế giới thông qua với số phiếu thuận tuyệt đối.

CÁC ĐẢO NÚI VÀ HANG ĐỘNG NỔI TIẾNG

Các đảo núi nổi tiếng

Núi Bài Thơ

Cao 191m, nằm ở trung tâm thành phố Hạ Long, dưới các triều đại phong kiến,  núi Bài Thơ là trạm canh phòng của vùng biển Đông Bắc. Chân núi có chùa Long Tiên, đền thờ Đức ông Trần Quốc Nghiễn. Trên vách núi phía Đông Nam còn di bút của vua Lê Thánh Tông và 6 bài thơ chữ Hán khác của các danh nhân từ thế kỷ XV – XX ca ngợi cuộc sống thái bình và cảnh đẹp của Vịnh Hạ Long. Núi Bài Thơ còn là nơi ngọn cờ đỏ búa liềm tung bay nhân ngày 1/5/1930 trong phong trào đấu tranh của  giai cấp công nhân mỏ chống thực dân Pháp.

Đảo Ti Tốp

Năm 1962 Bác Hồ cùng anh hùng lao động Việt Nam, nhà du hành vũ trụ Liên Xô Giéc Man Ti Tốp tới thăm  Hạ Long và nghỉ tại đảo. Để kỷ niệm chuyến đi này, Bác Hồ đã lấy tên Ti Tốp đặt cho hòn đảo. Đảo có bãi  tắm tuyệt đẹp, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, cách bến tàu du lịch 7 – 8 km.

Hòn Gà Chọi

Gồm 2 hòn đảo nhỏ, cao 12m giống hệt một đôi gà đứng đối diện nhau đang tung cánh.  Hình ảnh hòn Gà Chọi được chọn làm biểu tượng của Quảng Ninh và biểu tượng du lịch Việt Nam  năm 2000. Hòn Gà Chọi ở phía Đông Nam đảo Đầu Gỗ, cách bến tàu du lịch 5km. Đảo còn có tên là hòn Trống Mái hay là hòn Cặp Gà.

Hòn Đỉnh Hương

Nằm phía Tây Nam đảo Đầu Gỗ, giống hệt như một lư hương bằng đá khổng lồ mọc lên giữa biển khơi.

Hòn Xếp

Nằm ở Vịnh Bái Tử Long, Cẩm Phả. Hòn Xếp gồm các khối đá to, vuông đều đặn được xếp chồng lên nhau giống như một Kim tự tháp Ai Cập được dựng lên giữa biển khơi.

Hòn Thiên Nga

 Một hòn đảo nhỏ đứng bồng bềnh trên Vịnh biển, có hình thù giống như một đôi thiên nga đang tình tự. Hòn Thiên Nga là một địa chỉ tham quan, chụp ảnh lý tưởng trên Vịnh Bái Tử Long.

Hòn Con Cóc

Là một trong những tác phẩm tuyệt mỹ của tạo hoá ban tặng cho Hạ Long, hòn Con Cóc cao 8m, giống hệt một chú cóc đang ngồi chờ mưa rơi giữa mênh mông sóng nước. Hòn Con Cóc là một trong những địa chỉ  du lịch nổi tiếng, nằm ở phía Đông Nam Vịnh Hạ Long, cách bến tàu du lịch

 17km.

Hòn Đầu Người

Cao 25m, từ xa nhìn giống như đầu người Ai Cập với chiếc mũi to, gồ ghề, nhô ra xa, cằm tỳ trên mặt nước. Một số người còn liên tưởng tới hình ảnh tượng Nhân sư Ai Cập nhưng Hòn Đầu người đẹp và thơ mộng hơn nhiều vì có thêm yếu tố biển. Hòn Đầu người nằm ở gần Hang Luồn, cách bến tàu du lịch 13 km.

Hòn Đũa

Nằm trong khu vực Vịnh Bái Tử Long, cách núi Bài Thơ về phía đông 7km, Hòn Đũa giống như một chiếc đũa thần khổng lồ trong truyện cổ tích của An – Đéc – Xen được cắm xuống biển khơi.Đây cũng là bằng chứng sinh động về giá trị địa chất địa mạo đặc sắc của Vịnh Hạ Long.  Hòn Đũa là một trong những điểm tham quan lý tưởng cho du khách và cũng là mốc giới định hướng quan trọng cho các tàu thuyền khi ra khơi.

Ba Trái Đào

Gồm ba hòn núi nhỏ, cao 23m trông giống hệt ba trái đào. Hòn Ba Trái Đào gắn liền với câu truyện truyền thuyết tình yêu lãng mạn giữa nàng tiên út với chàng ngư dân đánh cá nghèo khổ. Vì muốn chàng trai được sống bên mình mãi mãi, nàng tiên út đã lấy trộm ba trái đào tiên cho chàng ăn. Ngọc Hoàng biết chuyện liền hoá phép biến thành ba trái núi. Ngày nay, Ba Trái Đào là một địa danh nổi tiếng với bãi tắm tiên tuyệt đẹp, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, cách bến  tàu du lịch 22 km về phía đông nam.  

Đảo Tuần Châu

Cách bến tàu du lịch 4 km về phía Tây Nam, đảo Tuần Châu rộng 2,8km,2, trên đảo có di chỉ khảo cổ thuộc nền văn hoá Hạ Long. Đảo còn là một trung tâm du lịch với bãi biển đẹp, nhiều nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí… giữa một cộng đồng dân cư với những truyền thống, phong tục tập quán lâu đời.

Đảo Ngọc Vừng

 Là đảo đất, rộng 12km2, có người ở, cách bến tàu du lịch 34km. Xung quanh đảo có nhiền bãi biển đẹp. Đảo có núi Vạn Xuân cao 182m, có di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 4500m2, có bến cảng cổ Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Đồn từ thế kỷ XI, có di tích thành cổ nhà Mạc và nhà Nguyễn.

Đảo Quan Lạn

Cách thị xã Cẩm Phả 35km về phía Đông Nam, thế kỷ XI, đảo là trung tâm thương mại quốc tế sầm uất và quan trọng nhất của Việt Nam. Trên đảo hiện còn rất nhiều di tích lịch sử và kiến trúc giá trị như : Đình, miếu, chùa, nghè, bến cảng cổ… Đặc biệt, hội làng Quan Lạn diễn ra từ ngày 11 – 26/6 âm lịch hàng năm với tục đua thuyền rất vui. 

CÁC HANG ĐỘNG NỔI TIẾNG 

Động Thiên Cung

Nằm ở phía Bắc đảo Đầu Gỗ, cách cảng tàu du lịch 4km, mới phát hiện năm 1993. Động rộng và đẹp vào loại nhất của Hạ Long, động chia làm nhiều ngăn, với vô vàn nhũ đá tạo thành các hình thù kỳ dị và hấp dẫn. Động còn gắn liền với câu chuyện truyền thuyết về vua Rồng của Hạ Long.

Hang Đầu Gỗ

Đầu Gỗ là hang động rộng, đẹp mang nét cổ kính rêu phong, người Pháp gọi  là “động của các kỳ quan”. Hang nằm trên  dãy đảo Đầu Gỗ,  cách động Thiên Cung 300m. Tháng 10 – 1957, Bác Hồ tới thăm hang Đầu Gỗ, câu nói nổi tiếng của Bác về vẻ đẹp của hang động này: ai cũng phải vào thăm hang mới thấy hết cảnh đẹp. Cảnh đẹp một người không thể nói hết cho nhiều người. Trong chuyến du hành năm 1919, vua Khải Định đã đến thăm động và lưu lại một bia minh văn, ca ngợi cảnh đẹp của Hạ Long. Trong động còn có giếng tiên, cùng vô số cảnh sắc do nhũ đá tạo nên.

Hang Sửng Sốt

Là một trong những hang động đẹp, và hoành tráng nhất trên Vịnh Hạ Long. Động gồm 3 khu với tổng diện tích trên 10.000m2. Mỗi cảnh trí trong động mang lại cho du khách một cảm giác mới lạ, ngạc nhiên. Sửng Sốt là một trong những hang động karst điển hình, có giá trị khoa học cao của Vịnh Hạ Long.

Hang Trinh Nữ

Cách bến tàu du lịch khoảng 9km về phía Đông Nam, động rộng và đẹp, bao đời nay được người dân địa phương coi là biểu tượng của tình yêu chung thuỷ. Động gắn liền với huyền thoại về tình yêu của một đôi trai gái dân vạn chài, vì giữ lòng chung thuỷ với người yêu, người con gái đã bị tên địa chủ đày ra đảo xa và hoá đá tại nơi này.

Hồ Ba Hầm

Cách Bến tàu khoảng 25km về phía Tây Nam, trên dãy đảo Đầu Bê, Hồ Ba Hầm nổi tiếng với cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình. Có 3 hồ nước lớn thông với nhau bằng 3 cửa hang. Khách muốn vào thăm phải đi bằng thuyền nan. Ngoài cảnh đẹp, nơi đây còn có quần động thực vật vô cùng phong phú như: khỉ, chồn, chim, các loài san hô, tôm cá, lan, cọ…

Hang Hanh

Đây là hang dài nhất trong khu vực Vịnh Hạ Long (khoảng hơn 2km) bắt nguồn từ chân núi Quang Hanh ăn thông ra biển. Trong hang có nhiều  nhũ đá đẹp và là một môi trường đặc biệt cho một số loài cá và hải sản sinh sống. Hang thuộc địa phận Vịnh Bái Tử Long, thị xã Cẩm Phả.

Động Mê Cung

Cách Bến tàu du lịch 12km về phía Đông Nam, là một trong những di chỉ khảo cổ thuộc giai đoạn sớm của văn hóa Soi Nhụ, có niên đại khoảng 2 vạn năm cách ngày nay. Động  Mê Cung còn là một hang động đẹp, có vườn thực vật tự nhiên phong phú, phía sau động có một hồ nước karst rất đẹp, và có giá trị địa chất cao…

Động Kim Quy

Cách bến tàu du lịch khoảng 7 km về phía Tây Nam, động Kim Quy là một trong những địa chỉ hấp dẫn với du khách không chỉ bởi vẻ đẹp kỳ ảo của hang động mà còn bởi nó làm cho người ta liên tưởng tới truyền thuyết về thần Kim Quy và câu chuyện tình Mỵ Châu – Trọng Thuỷ.

Động Lâu Đài

Thuộc địa phận Vịnh Bái Tử Long, động đẹp tựa như lâu đài nơi trần thế. Ngoài ra, đây còn có làng chài nổi trên Vịnh còn lưu giữ nhiều nét văn hoá truyền thống đặc sắc của vùng biển đông bắc. Động cách bến tàu du lịch khoảng 10km

Hệ thống đảo và hang động

Các đảo trên vịnh  Hạ Long chủ yếu là đảo đá vôi, tập trung ở khu vực phía đông nam và tây nam; một số đảo phiến thạch phân bố rải rác ở khu vực đông nam. Tổng diện tích các đảo trên vịnh Hạ Long là 562km2 với độ cao từ trung bình từ 50 – 200m. Những đảo đất như đảo Tuần Châu, Ngọc Vừng, Quan Lạn, Hòn Rều… đều có thảm thực vật trù phú, có người và động vật sinh sống, đây là những điểm thích hợp để phát triển du lịch sinh thái trên Vịnh Hạ Long. ẩn dấu trong những hòn đảo đá vôi là hệ thống hang động vô cùng phong phú với quy mô, hình dáng, màu sắc đa dạng. Hiện nay, rất nhiều hang động đang là những điểm thu hút khách du lịch trên vịnh Hạ Long như: Thiên Cung, Đầu Gỗ, Sửng Sốt, Tam Cung, Bồ Nâu… Nhiều hang là di chỉ khảo cổ, còn lưu giữ dấu ấn của người tiền sử thuộc các nền văn hoá Soi Nhụ và Hạ Long như: hang Soi Nhụ, Mê Cung, Tiên Ông, Thiên Long, Hang Trống, Hang Trinh Nữ…

Hạ Long – huyền thoại

Tên Hạ Long nghĩa là “rồng xuống”. Tên này chưa thấy được ghi chép trong các thư tịch cổ của nước ta từ trước thế kỷ 19. Khi nói đến khu vực Vịnh Hạ Long ngày nay, sử sách xưa thường chép chung là biển Giao Châu, Lục Châu, Lục Thuỷ, Vân Đồn, Hải Đông, An Bang… mãi đến cuối thế kỷ XIX, tên vịnh Hạ Long mới thấy xuất hiện trên bản đồ hàng hải vịnh Bắc Bộ của Pháp.

Vậy tên Hạ Long bắt nguồn từ đâu và có từ bao giờ ? Trong dân gian từ bao đời nay vẫn lưu truyền câu chuyện huyền thoại gắn liền với sự ra đời của vịnh Hạ Long. Truyện kể rằng:

           “Ngày xưa, khi người Việt mới lập nước, trong một lần nước Việt bị giặc ngoại xâm, trời sai rồng mẹ mang theo một đàn rồng con xuống giúp người Việt đánh giặc. Khi thuyền giặc từ biển cả ào ạt tấn công vào bờ thì đàn rồng cũng hạ giới. Đàn rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc, những châu ngọc ấy thoắt biến thành muôn vàn đảo đá sừng sững, liên kết lại như bức tường thành vững chãi, bất ngờ chặn bước tiến quân giặc. Thuyền giặc đang lao nhanh bị chặn lại đột ngột, đâm vào các đảo đá, đâm vào nhau vỡ tan tành…

           Sau khi giặc tan, rồng mẹ và rồng con không trở về trời, mà ở lại hạ giới –  nơi vừa diễn ra trận chiến đấu. Chỗ rồng mẹ xuống là Hạ Long, nơi rồng con xuống là Bái Tử Long. Đuôi của đàn rồng quẫy lên trắng xoá là Long Vĩ, tức bán đảo Trà Cổ ngày nay với bãi cát mịn, dài hàng chục kilômét”.

MỘT SỐ ĐỊA DANH KHÁC

Bãi cọc Bạch Đằng: Cách Bãi Cháy 44km về phía Tây Nam, bãi cọc Bạch Đằng thuộc địa phận xã Yên Giang, và một bãi cọc khác thuộc cánh đồng Vạn Muối, huyện Yên Hưng. Đây là trận địa cọc nhà Trần do tướng Trần Hưng Đạo chỉ huy chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 3 (1288).  Cạnh đó có miếu thờ Vua Bà – người đã giúp cho Trần Hưng Đạo nắm được qui luật thuỷ triều tại khu vực. Cây lim Giếng Rừng là dấu tích  của rừng lim – nơi cung cấp gỗ cho trận địa cọc. Đặc biệt, lễ hội Bạch Đằng được tổ chức vào ngày 8/4 âm lịch hàng năm, trong lễ hội có diễn trò đua thuyền, đánh trận của quân dân nhà Trần. Bãi cọc Bạch Đằng được Bộ văn hoá thông tin công nhận là Di tích quốc gia năm 1988. 

Chùa Yên Tử: Trên đường từ Hà Nội tới Hạ Long, cách Hạ Long 50 km. Đây là quê hương của phái phật giáo Thiền Trúc Lâm Việt Nam do vua Trần Nhân Tông sáng lập vào thế kỷ 13. Yên Tử non thiêng trùng điệp, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình. Hiện nơi đây còn gần chục ngôi chùa và hơn một trăm ngọn tháp.  Lễ hội Yên Tử từ 15/1 tới 15/ 3 âm lịch. Chùa Yên Tử được Bộ văn hoá thông tin  công nhận là di tích lịch sử văn hoá năm 1974. 

Đền Cửa Ông: Cách Hạ Long 40km về phía Đông Nam, đền Thờ Trần Quốc Tảng – con thứ 3 của Trần Hưng Đạo, người có công  trong việc giữ gìn vùng biên ải phía Bắc của tổ quốc. Đây là một công trình kiến trúc tôn giáo đẹp, ở một vị trí đắc địa. Lễ hội đền Cửa Ông mở ngày 3 tháng 2 âm lịch hàng năm. Đền được Bộ văn hoá thông tin  công nhận là di tích lịch sử văn hoá năm 1989.

– Khu vực Móng Cái, Trà Cổ: Cách Hòn Gai 198 km về phía Đông, Móng Cái là thị xã biên giới của Việt Nam , liền kề thị trấn Đông Hưng của Trung Quốc, có cửa khẩu thông thương, buôn bán rất sầm uất . Móng Cái có chùa Linh Khánh xây dựng từ thế kỷ 18, nhà thờ Trà Cổ xây dựng từ năm 1880 lớn nhất vùng cực Bắc Việt Nam, Đình Trà Cổ xây dựng năm 1553.  Lễ hội làng Trà Cổ với tục đua thuyền  rồng vào ngày 25/5.

Lễ hội Tiên Công: Tại đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng lễ hội vào ngày 7/1 âm lịch hàng năm, tưởng nhớ công lao của 19 vị tiên công có công trong việc quai đê lấn biển lập ra vùng đất Hà Nam.  Trong lễ hội, những cụ già thượng thọ 70, 80, 90, 100 tuổi được con cháu tổ chức lễ rước với đủ cờ quạt, nghi trượng rất trang trọng ra đền thờ bằng võng đào dâng lễ vật, để tỏ lòng tôn kính công ơn của tổ tiên và là một hình thức độc đáo của nghi thức “trọng xỉ” trong truyền thống văn hoá Việt Nam.

Côn Sơn Kiếp Bạc – Quỳnh Lâm: Là hệ thống đền chùa nằm dọc theo quốc lộ số 18. Chùa Quỳnh Lâm và Côn Sơn được xây dựng từ thế kỷ XI – XIII, là một trong những trung tâm của phái phật giáo Thiền Trúc Lâm Việt Nam. Chùa Côn Sơn còn là nơi thờ Nguyễn Trãi – người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Đền  Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo – danh tướng nhà Trần

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 16:29 18/01/2006

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: