Bàn về Xa lộ Biên Hòa (hiệp 2)

Sau nội dung bàn về lịch sử con đường Xa lộ Biên Hòa, nội dung bàn về tên gọi, bây giờ bàn tiếp nội dung khác :

Xa lộ Biên Hòa có phải là phi đạo dự phòng cho phi trường Tân Sơn Nhất ?

Các xa lộ được xây dựng với nguyên tắc nằm ngoài trung tâm đô thị, tránh nơi tập trung đông dân. Đó cũng chính là yêu cầu chính của đường cao tốc ngày nay. Nhưng vì đất nước đang ở trong thời gian chiến tranh, nên cơ sở hạ tầng nào được xây dựng vào thời ấy đều được gán ghép cho mục đích quân sự, như xa lộ Biên Hòa thì cho đó là phi đạo để phi cơ hạ cất cánh lúc phi trường Tân Sơn Nhất bị tấn công, xa lộ Vành đai Thủ đô thì cho đó là đường lăn (taxi-way), các đường nhánh nối Xa lộ Vành đai Thủ đô với trung tâm Sài Gòn như Quang Trung, Bà Hom, … là những bãi đỗ hay nơi “ẩn náo” cho phi cơ, v.v…

Xét theo nguyên tắc kỹ thuật của ngành Hàng không, nguyên tắc ứng xử khi phi cơ gặp sự cố về đường hạ cất cánh hay sự cố phải hạ cánh khẩn cấp thì tất cả những mặt phẳng nào không quá gồ ghề, có chiều ngang đủ an toàn, có đủ chiều dài tối thiểu thì phi cơ đều đáp xuống được; đó có thể là một con đường đất, một bãi cát, một cánh đồng cỏ, v.v… kể cả mặt biển, mặt sông, hồ cũng được lụa chọn. Không nhất thiết gì phải chọn xa lộ Biên Hòa khi phi cơ gặp sự cố. Giả dụ trường hợp đối phương khống chế phi trường Tân Sơn Nhất, thì các phi cơ (quân sự lẫn dân sự) nếu muốn hạ cánh thì thiếu gì các phi trường khác xung quanh Sài Gòn, có thể kể ra một loạt :

a) Vùng gần Biên Hòa :

– Phi trường Biên Hòa chỉ cách Tân Sơn Nhất 25km đường chim bay, mất vài phút để bay. Phi trường này có cơ sở hạ tầng kỹ thuật hàng không không kém Tân Sơn Nhất với 2 phi đạo dài 10.000 foot (trên 3.000 mét) và 1 đường lăn (taxi-way).

– Phi trường thuộc căn cứ Không quân Plantation, hay còn gọi là căn cứ không quân Bắc Long Bình trong tổ hợp quân sự Long Bình.

– Phi trường căn cứ Không quân Stanford (phi đạo được tráng nhựa phẳng lỳ, dài 3.200 foot) trong tổ hợp quân sự Long Bình.

– Phi trường Long Thành (xem phi đạo Ông Quế).

– Phi trường Bắc Long Thành, phi đạo dài đến 5.000 foot và được tráng nhựa, giờ vẫn còn vết tích.

b) Vùng gần Xuân Lộc

– Phi đạo An Lộc (xem phi đạo Ông Quế), nằm cạnh Quốc lộ 1A, không còn vết tích.

– Phi trường tại Xuân Lộc, được tráng nhựa phẳng lỳ, dài 3.500 foot.

– Phi đạo Ông Quế, được ông chủ đồn điền cao su người Pháp xây dựng để đi lại bằng phi cơ cá nhân, chỉ dài dưới 2000 foot. Trong khoảng thời gian 1920 – 1930 có hàng trăm phi đạo như vậy được người Pháp xây dựng ở Đông Dương. Thời gian chiến tranh thì phi đạo chỉ dùng đáp khẩn cấp.

– Phi trường trong căn cứ Blackhorse, được tráng nhựa phẳng lỳ, dài 2300 foot.

– Phi đạo Courtenay (xem phi đạo Ông Quế).

c) Vùng bắc Sài Gòn

– Phi trường Dĩ An, nằm bên hướng tây của đề-pô xe lửa Dĩ An, giờ không còn vết tích.

– Phi trường trong căn cứ không quân Phú Lợi, dài khoảng 3.200 foot, được tráng nhựa phẳng lỳ, giờ vẫn còn vết tích.

– Phi đạo Lam Sơn, bằng đất nện, cũng trong khu Phú Lợi.

– Phi đạo Củ Chi dài 3200 foot, trong căn cứ Đồng Dù (đến nay lớp nhựa tráng trên mặt phi đạo vẫn còn khá tốt).

– Phi trường Đức Hòa, bằng đất nện, phía tây ngã tư Đức Hòa, không phát hiện vết tích nào còn lại.

d) Vùng tây Sài Gòn

– Phi trường Long An, cạnh Quốc lộ 62, cách trung tâm chưa đầy 1km, không còn vết tích.

– Phi trường Bến Tranh (gần Tân Hiệp), dài khoảng 3000 foot bằng đất nện, vẫn còn vết tích.

– Phi trường Bình Đức và phi đạo trong căn cứ quân sự Đồng Tâm thuộc thành phố Mỹ Tho.

– Phi trường Gò Công, nằm cạnh tỉnh lộ 871, không còn vết tích.

Và còn rất nhiều phi đạo hay bãi đáp nữa. Trong đó có một bãi đáp quan trọng ở ngay trung tâm đô thành Sài Gòn là trường đua ngựa Phú Thọ, đủ điều kiện đáp cho nhiều loại phi cơ nhỏ.

Xem một thông tin : “Xa lộ Sài gòn Biên hòa được xây từ thời tổng thống Diệm. Bỗng nhiên đầu năm 1974, công ty RMK-BRJ của Mỹ xây bức tường cao 50 cm bằng xi-măng để phân đôi xa lộ Sài gòn Biên hòa ra thành 2 chiều riêng rẽ … xa lộ Biên hòa như một phi đạo tuyệt hảo cho pháo đài bay B52 … xây tim đường thật cao phân đôi … (thế là) xa lộ trở thành vô dụng cho phản lực cơ.” Tác giả thông tin này cho rằng Mỹ đã “bắt tay” với VC để bức tử VNCH, cho nên xây vách ngăn giữa xa lộ để B52 không đáp xuống ứng cứu khi cần thiết; hoặc có người khác nói xây vách ngăn là để không cho phi cơ của quân VC đổ bộ xuống tấn công Sài Gòn. Mức độ kỹ thuật của hai thông tin này cần xét lại.

Thứ nhất : trước 1975, chỉ có chuyện quân lực VNCH có cái gọi là không vận. Nói quân đội của Mặt trận GPMN hay Bắc Việt có không vận là khái niệm chưa được biết đến.

Thứ hai : trước 1975 và cho đến gần đây, loại phi cơ vận tải khổng lồ C-130 là ưu tiên một để không vận tất tần tật mọi thứ cho chiến tranh, B52 chỉ là phi cơ thả bom thôi. Khi cần sử dụng B52, không lực Mỹ điều phối từ các căn cứ không quân tại Thái Lan, Phi-líp-pin đến, hoàn thành nhiệm vụ trút bom xong là quay về cứ, “cần” B52 đáp xuống Sài Gòn đ
ể làm gì ? Nếu chọn bãi cho C-130 đáp ứng cứu (vũ khí, quân nhu …) thì quanh gần Sài Gòn có các phi trường có khả năng đón tiếp là (ngoài Tân Sơn Nhất) : Biên Hòa, Long Thành, Bắc Long Thành, Xuân Lộc và Củ Chi.

Còn về việc “ẩn núp”; xét về mặt quân sự, nếu phi trường Tân Sơn Nhất bị khống chế tức là tình hình chiến sự đã quá hỗn loạn thì phi cơ đỗ ở đâu cũng không an toàn, ngoài việc đỗ ở các căn cứ quân sự chưa bị tấn công là an toàn nhất mà thôi.

Về việc đường lăn (taxi-way), loại phi cơ lớn nhất ngày nay chỉ cần phi đạo khẩn cấp tối thiểu 2km là đủ đáp, hà cớ gì sau khi đáp chỉ có 2km, phải lăn cả chục ki-lô-mét để đi trốn ? lăn đi trốn hay làm bia di động cho pháo của đối phương “bụp” luôn ? (Ái chà, tui làm bộ đội giải phóng, cầm AK47 hay chơi cối 60 ly, hoặc tệ hơn là chơi trường CKC mà “bụp” được máy bay Mỹ là tui nổi tiếng à ! Là “Dũng sĩ diệt máy bay Mỹ” á nha !).

Xét về phí tổn xây dựng Xa lộ Biên Hòa

Các loại phản lực cơ khổng lồ ngày nay chỉ cần phi đạo khoảng 3.500 mét, dự phòng thêm 500 mét nữa, vị chi là 4.000 mét cho một phi đạo ở các phi trường lớn. Thời trước 1975, chưa có loại phản lực cơ nào to lớn như ngày nay, cho nên phi đạo chỉ cần khoảng 3.000 mét là đủ.

Trong khi đó, tổng chiều dài của Xa lộ Biên Hòa là trên 30.000 mét, bằng bao nhiêu phi đạo tại Tân Sơn Nhất ? Tạm theo cứ theo “công thức” của phi trường Tân Sơn Nhất, phi trường Biên Hòa hay phi trường Don Mueang – Thái Lan (thời trước 1975, cơ sở hạ tầng phi trường này chưa theo kịp Tân Sơn Nhất. Vậy mà người Thái sử dụng mãi cho đến 2006 mới chuyển giao cho tân siêu phi cảng Suvarnabhumi; nhưng từ 2007 Don Mueang đã được sử dụng lại) là : 02 phi đạo (runway) với 01 đường lăn chính (taxi-way) chạy song song, cùng các đường lăn phụ (taxi-way) liên kết. Tạm thời cứ cho hệ thống các đường lăn là tương đương 01 phi đạo thì tổng chiều dài của Xa lộ Biên Hòa tương đương với ít nhất 3 phi trường.

Nếu lấy chi phí, công sức làm 2 công trình lớn khác cũng trên xa lộ là cầu bắc qua sông Sài Gòn và cầu bắc qua sông Đồng Nai (Thời thập niên 50, 60 mà làm được hai cây cầu này quả là “vĩ đại” so với mấy cái cầu khác mà Việt Nam ta dựng lên sau đó bốn mươi, năm mươi năm) thì thì có thể làm thêm các công trình phụ cho 3 phi trường kia như nhà ga, bến đỗ …

Nếu là nhà quân sự, bạn có nghĩ Xa lộ Biên Hòa có thể thay thế được 03 phi trường quân sự ? Chưa nhắc đến việc phải có hệ thống kỹ thuật phục vụ như nhiên liệu, vũ khí … Chỉ riêng việc giữ an toàn cho cái phi đạo dài dằng dặc này có lẽ phải tốn 2 sư đoàn là ít.

Tóm lại

Nếu nói xa lộ Biên Hòa là phi đạo dự phòng cho phi trường Tân Sơn Nhất là chỉ đúng về kỹ thuật an toàn hàng không, nhưng nếu quá tăng tầm quan trọng lên, bảo rằng đây là một chứng cứ cho thấy Mỹ, chính quyền Sài Gòn quyết tâm tăng cường hoạt động quân sự, để rồi gì gì đó … thì chỉ là chuyện trà dư tửu hậu của bà Tám với bác Bảy mà thôi.

Chuyện này cũng được các bà, các bác lôi tiếp sang Cam-Bốt (ngày nay ta gọi là Cam-pu-chia), rồi kể rất bài bản rằng Mỹ giúp Cam-Bốt xây một xa lộ mới ở thủ đô Nam Vang để dụng ý làm bãi đáp cho phi cơ Mỹ khi có chiến sự xảy ra. Nhưng sau đó Liên Xô nhảy vô tặng cho Cam-Bốt một dàn đèn đường gây cản trở không lưu; thế là Mỹ đành ngậm ngùi bỏ mất kế hoạch làm phi đạo dự phòng ở đây (nội dung này cách đây không lâu được tuần báo A.N. đăng ngay những trang đầu).

Tôi chợt nhớ cách đây trên 10 năm, có xem một bộ phim Mỹ kể về một phi cơ dân sự khổng lồ gặp phải sự cố, cuối cùng đáp xuống một xa lộ đông đúc xe cộ bên đất Mỹ … cảnh mấy bác tài xe con sửng sốt khi thấy cái phi cơ khổng lồ qua mặt thật ấn tượng (hổng nhớ Cơ trưởng có bấm còi và “đá” xi-nhan hông ta !); hay cảnh mấy chiếc xe con giống như bầy kiến nhung nhúc dưới chân một “con Boeing” khổng lồ. Hình như đạo diễn bộ phim đó đã “ăn cắp” ý tưởng từ chuyện của bà Tám với bác Bảy Sài Gòn rồi !

Tham khảo một số thông tin được truyền miệng, rồi được giới HDV Sài Gòn đưa lên mạng : … “Trước năm 1975, Mĩ và chính quyền Sài Gòn sử dụng con đường này như một đường băng quân sự dã chiến khi sân bay Tân Sơn Nhất có sự cố. Đến năm 1971, họ cho rằng con đường này thuận lợi cho quân cách mạng đổ bộ tấn công Sài Gòn nên đã xây dựng vách ngăn giữa tim đường.

Hầu hết các mạng của giới HDV đều đăng thông tin này. Nếu không kịp chấn chỉnh, đến ngày nào đó nó trở thành thông tin chính thức luôn quá. Lúc đó, HDV Việt Nam cứ ra rả … để rồi nghe du khách (những người am hiểu về lịch sử, về hàng không) cười chê chả biết gì về chiến tranh, về hàng không, về đường cao tốc.

Nội dung kế tiếp : Các số liệu về Xa lộ Biên HòaKể chuyện dạo trên xa lộ (địa phương chí)

2 Responses

  1. Số liệu về Xa lộ Biên Hòa
    Không có điều kiện tìm được văn bản đáng tin cậy, tạm thời sử dụng các thông tin “lượm lặt” vậy. Có các số liệu sau :
    – Thời gian xây dựng : Chưa rõ năm chính xác bắt đầu thi công, có người cho là năm 1959, cũng có người cho là từ tháng 6/1957. Ngày khánh thành là 28/04/1961, ba tháng sau, bưu điện VNCH phát hành bộ tem có tên Xa-lộ Biên-Hòa để kỷ niệm sự kiện này.
    – Vốn đầu tư : không rõ, nhiều người nói là do tiền viện trợ chiến tranh của Mỹ. Có lẽ viện trợ về kinh tế thì đúng hơn !
    – Xây dựng : công ty CEC thiết kế, thi công. Qua tìm hiểu, được biết đây là một công ty của Mỹ, chuyên xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng có liên quan đến chiến tranh (Vietnam, Iraq …).
    – Xa lộ được bắt đầu từ ngã ba đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Điện Biên Phủ bây giờ (trước 1975 mang tên Phan Thanh Giản), lên cầu bắt qua rạch Thị Nghè, băng ngang đường Thiên Lý bắc xưa (Hùng Vương, sau 1975 đổi là Xô Viết Nghệ Tĩnh), Văn Thánh rồi qua sông Sài Gòn … đến Biên Hòa. Tổng cộng chiều dài khoảng 31.650 mét.
    – Chuẩn kỹ thuật : là đường cao tốc dành cho ô tô, với các khúc quanh có bán kính cao (trên 600 mét), khoảng cách bố trí giao với các lộ khác đủ xa để ô tô có thể đạt tốc độ từ 70km/giờ (lúc mới khánh thành – 1961) đến hơn 120km/giờ (khi nâng câp – 1971). Xa lộ có bề rộng 3 làn chính và 2 làn phụ (kỹ thuật) cho mỗi bên. Đoạn từ cầu Rạch Chiếc trở ra, bắt đầu có đường song hành là đường gom, có tác dụng lưu thông nội bộ của các khu kỹ nghệ tập trung và dân cư, gom và đưa các phương tiện ra xa lộ tại các giao lộ MK, Bình Thái, Thủ Đức … thời điểm này còn sử dụng đường gom, chưa có cầu vượt (lưu ý là thời điểm đầu thập niên 60, Singapore chưa có cái xa lộ nào “hoành tráng” như vậy; nhưng đến nay thì hệ thống xa lộ của họ thuộc loại hiện đại nhất Đông Nam Á). Đến nay thì hệ thống đường gom, tiêu chuẩn giao cắt trên xa lộ Biên Hòa cũng như việc cách biệt giữa khu dân cư với khu kỹ nghệ đã bị phá vỡ hoàn toàn.
    – Dọc hai bên xa lộ là các khu kỹ nghệ tập trung (nổi bật là Khu kỹ nghệ Biên Hòa 1963, là khu công nghiệp đầu tiên của Việt Nam) và các khu dân cư ngoại ô cao cấp – kiểu nhà ở dạng biệt thự (nổi bật là làng Đại Học).
    – Thời gian gần đây, UBND thành phố HCM đã tiến hành sửa chữa, nâng cấp đoạn đường Hà Nội rồi cho xây trạm để thu phí ô tô qua lại (việc xây trạm này cũng đáng được ghi vào kỷ lục về phí tổn).
    – Lý trình (có dấu * là những giao lộ mới mở, hầu hết việc này đã phá vỡ yêu cầu kỹ thuật của một xa lộ cao tốc).
    Km00 : giao lộ với Nguyễn Bỉnh Khiêm và Điện Biên Phủ.
    Km00 + 150 : cầu Điện Biên Phủ.
    Km01 + 680 : ngã tư Hàng Xanh.
    Km02 + 240 : cầu Văn Thánh.
    Km03 + 500 : cầu Sài Gòn.
    Km04 + 200 : cầu Đen.
    Km04 + 740 : giao lộ với đường Quốc Hương (*)
    Km05 + 620 : trạm thu phí.
    Km06 + 580 : ngã ba Cát Lái.
    Km07 + 460 : cầu Rạch Chiếc.
    Km08 + 100 : kho containner (*).
    Km09 + 000 : ngã tư MK.
    Km10 + 140 : ngã tư Bình Thái.
    Km11 + 900 : ngã tư Thủ Đức.
    Km11 + 695 : ngã ba Xa lộ Đại Hàn (giờ là ngã tư).
    Km15 + 600 : khu du lịch Suối Tiên.
    Km16 + 390 : ngã 3 Lâm Viên. Bên hướng tây là địa phận Bình Dương, có một ngã ba mở ra, lệch với đường vào Lâm viên Thủ Đức nên người ta đã phá một đoạn dài con lươn ngăn cách, khiến cho khu vực này hiện nay lưu thông rất hỗn loạn, thường xảy ra tai nạn giao thông.
    Km16 + 830 : (hướng đông) Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố.
    Km16 + 790 : (hướng tây) Nghĩa trang Quân đội của chế độ cũ (cảnh quan đã bị phá vỡ, hoang phế và nhiều công trình, nhà cửa che lấp lối vào).
    Km20 + 340 : ngã 4 Tân Vạn.
    Km21 + 310 : cầu Đồng Nai.
    Km22 + 450 : ngã ba Vũng Tàu (thực tế là ngã tư).
    Km22+ 815 : ngã ba vào KCN Biên Hòa 2 (*).
    Km25 + 690 : ngã ba (bồn nước) rẽ vào KCN Biên Hòa 1 (*).
    Km26 + 045 : ngã tư Tam Hiệp.
    Km27 + 320 : cầu Suối Linh.
    Km28 + 370 : ngã tư KCN Amata.
    Km29 + 900 : cầu Hang (cầu Sập).
    Km31 + 650 : ngã 3 Hố Nai.

  2. Cum on, cum on A nhju lam! E rat wan tam den van de nay! Hj!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: