Hòa Bình

Hòa Bình

Diện tích: 4.662,5 km²
Dân số: 803.300 người (năm 2004)
Tỉnh lỵ:
Thị xã Hòa Bình
Các huyện: Đà Bắc, Mai Châu, Kỳ Sơn, Cao Phong, Lương Sơn, Kim Bôi, Tân Lạc, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Yên Thủy.
Dân tộc: Việt (Kinh), Mường, Thái, Tày, Dao…

 

 

Điều kiện tự nhiên

Hoà Bình là một tỉnh miền núi, cách Hà Nội trên 70km về phía tây nam theo quốc lộ 6. Phía bắc Hoà Bình giáp Phú Thọ và Hà Tây, phía nam giáp Ninh Bình và Thanh Hoá, phía đông giáp Hà Tây và Hà Nam, phía tây giáp Sơn La.

 

Địa hình Hoà Bình chủ yếu là núi rừng, xen kẽ giữa các sườn núi là các thung lũng hẹp. Khí hậu nóng ẩm, mưa theo mùa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,9ºC – 25ºC.

 

Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Sức hấp dẫn du khách của Hoà Bình, một vùng đất đa dân tộc, là giá trị nhân văn đa dạng, phong phú của cộng đồng cư dân.

 

Du khách sẽ được thưởng thức món ăn dân tộc, đặc sản cơm lam, thịt nướng rượu cần và xem các tiết mục cồng, chiêng, trống đồng, hát ví Mường, hát Khắp Thái, hòa nhập vào đêm Hội xòe, ngủ nhà sàn dân tộc, mua hàng dệt thổ cẩm và các lâm thổ sản quý… tại những bản Thái cổ, bản láp của đồng bào Dao…  

 

 

Ðịa hình đồi núi trùng điệp với các động Thác Bờ, hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo hiểm leo núi, đi bộ, săn bắn, tắm suối. Sức người và thiên nhiên đã tạo cho Hòa Bình một vùng hồ sông Ðà thơ mộng cho phép phát triển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn. Thấp thoáng các bản Mường, bản Dao, bản Tày rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình. Nói đến tài nguyên thiên nhiên của Hoà Bình không thể quên nhắc đến những bãi tắm đẹp bên hồ sông Ðà và suối nước khoáng Kim Bôi đích thực là chén thuốc vàng phục hồi sức khoẻ cho du khách.

 

Giao thông

Giao thông đường bộ, đường thuỷ đều thuận tiện. Có quốc lộ 6 từ Hà Nội qua Hà Tây, đến Hòa Binh, đi Sơn La ; quốc lộ 12B đi Nho Quan (Ninh Bình) ; từ Mai Châu theo quốc lộ 15 đi Thanh Hóa.

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 15:10 15/11/2005

Truyền thống văn hoá Mường ở Hoà Bình

30/07/2006

 

 

Cách đây hơn một vạn năm, những người con đất Việt đã sản sinh ra một nền văn hóa nổi tiếng, đó là văn hóa Hòa Bình. Hòa Bình là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, đặc biệt là dân tộc Mường với những giá trị văn hóa đặc sắc tiêu biểu,
rất phong phú đa dạng mang màu sắc độc đáo, riêng biệt.

Đến đây chúng ta không chỉ được chiêm ngưỡng những vẻ đẹp tuyệt vời do thiên nhiên tạo, mà còn được sống trong một nền văn hóa đặc sắc của người Mường được truyền lại qua bao thế hệ. Nền văn hóa ấy có từ khi người Mường biết ca lên bài ca Đẻ đất đẻ nước, biết trồng hạt lúa cây ngô, để hôm nay vẫn vươn lên một sức sống lâu bền và mạnh mẽ.

Người Mường có cùng nguồn gốc với người Việt cổ, có chung một nền văn hóa rộng lớn, trải dài suốt bao thế kỷ. Thấm đậm dòng máu con Lạc cháu Hồng, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước vươn lên chiến thắng thiên nhiên. Cùng nhau xây dựng bản làng, để hôm nay có được những cánh đồng bát ngát, những con đường trải dài ven núi, rộn rã người đi. Người Mường chủ yếu cư trú ở các vùng thung lũng, những dải đồi thấp ven núi, vì vậy từ trước tới nay, cư dân Mường sống bằng nghề nông nghiệp, trồng lúa và kết hợp làm nương rẫy. Bản làng được tập trung ở chân núi với hướng nhà nhìn ra cánh đồng hay dòng suối. Chính vì điều kiện cư trú như vậy, nên nền văn hóa Mường mang đậm nét bản địa, bó gọn lại trong các Mường và lưu truyền nó qua cuộc sống hàng ngày trong từng nếp ăn, nếp nghĩ, vì vậy đó là một nền văn hóa hết sức giản dị mộc mạc mà độc đáo.

Đến với vùng Mường hôm nay, ta vẫn được nhìn thấy thấp thoáng những ngôi nhà sàn dựa lưng vào núi, nhìn ra cánh đồng bát ngát… nhưng cách bố trí chỗ ăn, ở, chăn nuôi đã khác xưa. Chuồng trâu được làm riêng biệt cách xa khu nhà ở, xung quanh nhà là cây cối bốn mùa đơm hoa, kết trái. Ngôi nhà sàn dựng theo kiểu truyền thống của người Mường, vì được bố trí khéo léo nên không gian rất thoáng đãng và đặc biệt tiện lợi. Với đặc trưng kiểu nhà này, người Mường đã tạo nên cho mình một tập quán riêng trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong lao động sản xuất, vừa trồng lúa, làm nương rẫy, vừa chăn nuôi gia súc gia cầm. Để gặt lúa người Mường sáng tạo ra nhiều công cụ tiện lợi và cho năng suất cao. Đó là chiếc quào, một loại hái có cán dài cho phép cắt cả những bông lúa lớn. Tháng 9 lúa trổ, tháng 10 lúa chín rực rỡ đầy đồng cho những hạt lúa trắng phau. Sau những tháng ngày vất vả, mùa bội thu là một niềm vui không gì sánh nổi bởi đó là lúc được hưởng những thành quả lao động do bàn tay mình làm ra. Với người Mường, hoạt động nông nghiệp cũng là một nền tảng của âm nhạc. Âm thanh rộn ràng của cuộc sống hàng ngày gợi lên niềm vui của một mùa gặt mới, đúm vừa là một công cụ giã gạo lại vừa là một nhạc cụ. Âm nhạc và ca hát luôn có mặt trong cuộc sống hàng ngày, gắn bó mật thiết với cuộc sống lao động. Niềm vui được mùa cũng là dịp để người Mường trình diễn các hoạt động nghệ thuật độc đáo của mình.

Trong hoạt động nông nghiệp, người Mường sử dụng một loại lịch tre rất đặc biệt. Người Mường không chỉ dùng loại lịch tre tính ngày cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn sử dụng nó trong các ngày lễ quan trọng của một đời người. Đám cưới của người Mường được diễn ra trong không khí tươi vui tưng bừng của Mường trên, Mường dưới rộn rã náo nức. Nàng dâu được mẹ chồng quý sẽ được mẹ chồng rót nước rửa chân cho trước khi lên nhà, trao cho chiếc vòng tay ngụ ý chúc đôi vợ chồng trẻ mãi, khăng khít hạnh phúc. Từ nay trong gia đình có thêm nàng dâu mới, có đủ thủ tục cưới xin, từ đây hai người chính thức nên vợ nên chồng trước sự chứng kiến của hai bên gia đình họ tộc, của xóm dưới, làng trên. Trong ngày vui là dịp để mọi người được thưởng thức những áng mo bất hủ sử thi thần thoại, thể hiện cách nhìn nhận của người Mường về cuộc sống, về vũ trụ có ý nghĩa rất sâu sắc. Đồ vật của thầy mo làm lễ là những vật được lấy từ thiên nhiên, vì vậy khi lời thầy mo cất lên như một sự giao hòa của đất trời với cuộc sống con người.

 

Hồi trống, hồi chiêng phát tang đã khép lại vòng quay cuộc sống của một đời người. Nó cũng báo cho cả Mường trên Mường dưới biết rằng một thành viên của họ đã ra đi vĩnh viễn, đó là sự chuyển dịch của con người từ Mường này đến Mường khác, từ Mường người đến Mường ma. Vì vậy tang lễ Mường mang không khí cộng đồng, chuẩn bị cho một người thân sắp sửa đi xa, đó cũng là quan niệm của người Mường từ thủa trước. Đối với người Mường trống đồng là một của gia bảo rất thiêng, và chỉ được đưa ra sử dụng trong những nghi thức tế lễ trọng thể. Người Mường vẫn còn giữ được những cách đánh trống đồng độc đáo, trong đó có cách múa trống rất sinh động. Trong âm thanh rộn ràng của trống đồng, cồng chiêng, điệu múa làm sống lại không khí tưng bừng của ngày hội xa xưa từ thủa khai thiên lập địa. Trong những mộ Mường cổ, người ta còn tìm thấy nhiều bảo vật quý. Người Mường và người Việt cổ có mối quan hệ vô cùng khăng khít, là chủ nhân của một nền văn hóa Đông Sơn được sản sinh từ nền văn minh nông nghiệp phát triển. Đất nước đang trên đà đổi mới, việc hội nhập với các nền văn minh trên thế giới cùng làm song song với việc gìn giữ phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Tiến Hùng sưu tầm 19:58:51 9/20/2006

One Response

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: